NGUỒN THIỀN GIẢNG GIẢI 1
<!-- /* Font Definitions */ @font-face {font-family:Wingdings; panose-1:5 0 0 0 0 0 0 0 0 0; mso-font-charset:2; mso-generic-font-family:auto; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:0 268435456 0 0 -2147483648 0;} @font-face {font-family:SimSun; panose-1:2 1 6 0 3 1 1 1 1 1; mso-font-alt:宋体; mso-font-charset:134; mso-generic-font-family:auto; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:3 680460288 22 0 262145 0;} @font-face {font-family:VNI-Times; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:auto; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:3 0 0 0 1 0;} @font-face {font-family:"\@SimSun"; panose-1:2 1 6 0 3 1 1 1 1 1; mso-font-charset:134; mso-generic-font-family:auto; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:3 680460288 22 0 262145 0;} @font-face {font-family:"Wingdings 2"; panose-1:5 2 1 2 1 5 7 7 7 7; mso-font-charset:2; mso-generic-font-family:roman; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:0 268435456 0 0 -2147483648 0;} /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-parent:""; margin:0in; margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:13.0pt; font-family:VNI-Times; mso-fareast-font-family:SimSun; mso-bidi-font-family:"Times New Roman"; color:windowtext; mso-fareast-language:ZH-CN; mso-no-proof:yes;} h2 {mso-margin-top-alt:auto; margin-right:0in; mso-margin-bottom-alt:auto; margin-left:0in; mso-pagination:widow-orphan; mso-outline-level:2; font-size:18.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-font-family:SimSun; color:black; mso-fareast-language:ZH-CN; font-weight:bold;} h3 {mso-margin-top-alt:auto; margin-right:0in; mso-margin-bottom-alt:auto; margin-left:0in; mso-pagination:widow-orphan; mso-outline-level:3; font-size:13.5pt; font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-font-family:SimSun; color:black; mso-fareast-language:ZH-CN; font-weight:bold;} p {mso-margin-top-alt:auto; margin-right:0in; mso-margin-bottom-alt:auto; margin-left:0in; mso-pagination:widow-orphan; font-size:12.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-font-family:"Times New Roman"; color:black; mso-fareast-language:ZH-CN;} @page Section1 {size:8.5in 11.0in; margin:1.0in 1.25in 1.0in 1.25in; mso-header-margin:.5in; mso-footer-margin:.5in; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} /* List Definitions */ @list l0 {mso-list-id:300697165; mso-list-type:hybrid; mso-list-template-ids:1767129432 1078247434 -615897136 -1363659390 120515632 -1641788638 -757042272 1571706300 -1531550878 1170229416;} @list l0:level1 {mso-level-number-format:bullet; mso-level-text:; mso-level-tab-stop:.5in; mso-level-number-position:left; text-indent:-.25in; mso-ansi-font-size:10.0pt; font-family:Symbol;} @list l0:level2 {mso-level-tab-stop:1.0in; mso-level-number-position:left; text-indent:-.25in;} @list l0:level3 {mso-level-tab-stop:1.5in; mso-level-number-position:left; text-indent:-.25in;} @list l0:level4 {mso-level-tab-stop:2.0in; mso-level-number-position:left; text-indent:-.25in;} @list l0:level5 {mso-level-tab-stop:2.5in; mso-level-number-position:left; text-indent:-.25in;} @list l0:level6 {mso-level-tab-stop:3.0in; mso-level-number-position:left; text-indent:-.25in;} @list l0:level7 {mso-level-tab-stop:3.5in; mso-level-number-position:left; text-indent:-.25in;} @list l0:level8 {mso-level-tab-stop:4.0in; mso-level-number-position:left; text-indent:-.25in;} @list l0:level9 {mso-level-tab-stop:4.5in; mso-level-number-position:left; text-indent:-.25in;} @list l1 {mso-list-id:804086117; mso-list-type:hybrid; mso-list-template-ids:-27721822 67698697 67698691 67698693 67698689 67698691 67698693 67698689 67698691 67698693;} @list l1:level1 {mso-level-number-format:bullet; mso-level-text:; mso-level-tab-stop:1.5in; mso-level-number-position:left; margin-left:1.5in; text-indent:-.25in; font-family:Wingdings;} @list l2 {mso-list-id:1077744921; mso-list-type:hybrid; mso-list-template-ids:423939628 67698697 67698691 67698693 67698689 67698691 67698693 67698689 67698691 67698693;} @list l2:level1 {mso-level-number-format:bullet; mso-level-text:; mso-level-tab-stop:1.5in; mso-level-number-position:left; margin-left:1.5in; text-indent:-.25in; font-family:Wingdings;} @list l3 {mso-list-id:1187524982; mso-list-type:hybrid; mso-list-template-ids:-1785316860 67698697 67698691 67698693 67698689 67698691 67698693 67698689 67698691 67698693;} @list l3:level1 {mso-level-number-format:bullet; mso-level-text:; mso-level-tab-stop:1.5in; mso-level-number-position:left; margin-left:1.5in; text-indent:-.25in; font-family:Wingdings;} @list l4 {mso-list-id:1254506747; mso-list-type:hybrid; mso-list-template-ids:-1458926918 1257640606 67698713 67698715 67698703 67698713 67698715 67698703 67698713 67698715;} @list l4:level1 {mso-level-number-format:alpha-upper; mso-level-tab-stop:1.25in; mso-level-number-position:left; margin-left:1.25in; text-indent:-.25in;} @list l5 {mso-list-id:1496990553; mso-list-type:hybrid; mso-list-template-ids:1277079796 539649694 67698691 67698693 67698689 67698691 67698693 67698689 67698691 67698693;} @list l5:level1 {mso-level-number-format:bullet; mso-level-text:-; mso-level-tab-stop:.75in; mso-level-number-position:left; margin-left:.75in; text-indent:-.25in; font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-font-family:"Times New Roman";} @list l6 {mso-list-id:1972248799; mso-list-type:hybrid; mso-list-template-ids:-1461314766 67698697 67698691 67698693 67698689 67698691 67698693 67698689 67698691 67698693;} @list l6:level1 {mso-level-number-format:bullet; mso-level-text:; mso-level-tab-stop:1.5in; mso-level-number-position:left; margin-left:1.5in; text-indent:-.25in; font-family:Wingdings;} ol {margin-bottom:0in;} ul {margin-bottom:0in;} -->
NGUỒN THIỀN GIẢNG GIẢI
Tác giả: Thiền sư Tông Mật (Khuê Phong)
Giảng giải: Thiền sư Thích Thanh Từ
LỜI NÓI ÐẦU
Quyển NGUỒN THIỀN được thầy chúng tôi dịch từ năm 1969 sau khi nhập thất ra. Tập sách này nguyên đề là "Thiền Nguyên Chư Thuyên Ðô Tập Tự", là bài tựa của bộ Thiền Nguyên Chư Thuyên Ðô Tập (một trăm quyển) do Thiền sư Khuê Phong Tông Mật biên tập lời nói các thiền gia nói về nguồn cội yếu chỉ của Thiền Tông và diệu lý của Tam Tạng giáo điển. Sách này là then chốt của người tu thiền và kim chỉ nam của người học Phật.
Tập Nguồn Thiền có giá trị về Thiền và Giáo, người mới học Thiền đọc qua khó bề lãnh hội; giáo nghĩa lại phù hợp với chủ trương "Thiền Giáo song hành" của Hòa Thượng; nên khi thành lập tu viện Chơn Không, ngài đem ra giảng dạy cho thiền sinh khóa một học. Chúng tôi nghe lại băng nhựa, thấy giáo nghĩa của tập sách cũng như lời giảng của Hòa thượng quá thâm diệu và rõ ràng, giúp ích cho người học và tu thiền không nhỏ.
Sợ băng nhựa để lâu bị hư, chúng tôi ghi lại thành sách để làm tài liệu. Nay đủ duyên phổ biến, chúng tôi trình lên Hòa thượng xem và xin lưu truyền trong học chúng để các bạn đồng tu học có tài liệu nghiên cứu. Hòa thượng hoan hỷ cho tập sách này được phổ biến. Vì chúng tôi ghi từ lời giảng, chắc chắn tập sách không tránh khỏi sơ sót lỗi lầm, xin quý vị thông cảm, bỏ qua những lỗi mà chúng tôi vấp phải.
THUẦN GIÁC & THUẦN TÍN
Kính ghi
?
NGUỒN THIỀN GIẢNG GIẢI
MỞ ÐẦU
Nguồn Thiền là một quyển luận của Tổ Khuê Phong Tông Mật. Khuê Phong tên là am, Tông Mật là pháp hiệu của ngài, gọi chung tên am và pháp hiệu là Khuê Phong Tông Mật.
Quyển Nguồn Thiền đối với người tu thiền rất có giá trị. Xưa, ở Triều Tiên, thiền sư Phổ Chiếu không được học trực tiếp với các vị thiền sư Trung Hoa. Ngài nhờ đọc quyển luận này mà được ngộ đạo, thành một thiền sư chánh thống và truyền bá Thiền tông thạnh hành một thời tại Triều Tiên. Do đó, quyển Nguồn Thiền này đối với vị nào lanh lẹ, học qua liền thấy rõ đường lối tu thiền, không còn mờ mịt.
Ðứng về mặt giáo lý, quyển Nguồn Thiền trùm cả Tam Tạng, vì ngài Tông Mật là một thiền sư thông suốt ba tạng giáo điển, nên khi hoằng hóa, ngài phối hợp cả giáo lý gồm Kinh, Luật, Luận và Thiền. Học Nguồn Thiền chúng ta sẽ thấy được đại ý của ba tạng kinh điển, thấy được dòng dõi tông phong của mỗi phái trong Thiền tông. Tinh thần của ngài Tông Mật là tinh thần tổng hợp không chia chẻ từng nhóm, từng phái riêng. Ngài qui hội tất cả. Chúng ta sẽ không còn hạn cuộc riêng tư, mà đi thẳng vào Thiền tông để thấy rõ lối sống của Thiền, rồi đối chiếu lại với kinh điển thì thấy rõ chỗ đồng dị.
]
LƯỢC SỬ TÁC GIẢ
Thiền sư Tông Mật khi chưa xuất gia họ Hà, nguyên quán ở Quả Châu Tây Sung, gia đình giàu có, lúc nhỏ tinh thông Nho học, đến hai mươi tuổi mới nghiên cứu kinh Phật. Ðời Ðường hiệu Nguyên Hòa năm thứ hai (807 TL.) sắp được tiến cử đi làm quan, chợt gặp thiền sư Ðạo Viên, ngài phát tâm xuất gia. Nơi đây, ngài được truyền tâm ấn cũng năm ấy thọ giới Cụ Túc.
Một hôm, nhơn theo chúng thọ trai Tăng ở nhà Phủ sứ Nhâm Quán, ngài ngồi sau chót. Kế nhận được mười hai chương kinh Viên Giác, ngài xem chưa hết mà cảm ngộ rơi nước mắt. Về chùa, ngài đem sở ngộ trình lên thầy. Ðạo Viên bảo:
- Ông sẽ chẳng truyền giáo viên đốn, đây là chư Phật trao cho ông, nên du phương đừng tự ràng buộc một góc.
Ngài rơi nước mắt, vâng lệnh thầy từ tạ ra đi, đến yết kiến thiền sư Kinh Nam Trương (người Nam Ấn). Kinh bảo:
- Người truyền giáo nên giảng dạy ở đế đô.
Ngài lại đến yết kiến thiền sư Thần Chiếu. Chiếu bảo:
- Người Bồ Tát, ai có thể biết được.
Ngài tìm đến Nhượng Hán. Ở đây, nhơn vị Tăng bệnh trao cho bộ kinh Hoa Nghiêm Cú Nghĩa do đại sư Trừng Quán tuyển, ngài chưa từng học tập, một phen xem qua là giảng được, tự mừng duyên gặp gỡ của mình, ngài nói:
- Các thầy thuật tạo ít có cùng tột chỉ yếu, chưa bộ nào bằng bộ này, bộ này văn chương lưu loát, nghĩa lý rõ ràng. Ta tu Thiền thì gặp Nam tông (đốn ngộ), kinh điển thì gặp Viên Giác. Chỉ một câu nói tâm địa khai thông, trong một quyển kinh nghĩa sáng khắp trời. Nay lại gặp bộ tuyệt bút này biết sạch trong lòng.
Giảng xong, ngài nghĩ nên tìm đến Ðại sư Trừng Quán. Khi ấy, trong môn đồ có Thái Cung chặt tay để cúng dường công ơn giảng dạy. Ngài gởi thư đến Ðại sư Trừng Quán trước, đợi săn sóc Thái Cung lành mạnh, thầy trò đồng đến Thượng Ðô. Ngài đối với Ðại sư Trừng Quán giữ lễ đệ tử, Quán bảo:
- Người hay theo ta dạo Hoa Tạng Tỳ Lô là ông vậy.
Ngài ở đây đức hạnh càng ngày càng cao, những bịnh chấp tướng lần lần dứt sạch.
Ði dạo miền bắc đến núi Thanh Lương, ngài dừng lại ở chùa Thảo Ðường, huyện Hộ. Không bao lâu, ngài lại trụ trì Lan Nhã Khuê Phong ở núi Nam Chung.
Ðến niên hiệu Thái Hòa năm thứ hai (828), vua thỉnh ngài về triều ban tử y (y tía) và thư hỏi pháp yếu, bá quan trong triều đều quy kính ngài, duy tướng quốc Bùi Hưu là thân cận hơn cả. Ngài dùng Thiền và Giáo để giáo hóa môn đồ. Về Thiền, ngài có biên tập lời nói, kệ tụng của các thiền gia làm một bộ lấy tên là Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập và viết một quyển cương yếu lấy tên là Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Ðô Tự. Về Giáo, ngài có sớ giải các bộ kinh Viên Giác, Hoa Nghiêm, Niết Bàn...
Niên hiệu Hội Xương năm đầu (841 TL.) ngày mùng sáu tháng giêng, ngài ngồi kiết già thị tịch, tại tháp viện Hưng Phước, dáng mạo nghiêm trang, vui vẻ hơn ngày thường. Ðến bảy ngày mới để vào quan tài và sau này thiêu được xá lợi rất nhiều. Ngài thọ sáu mươi hai tuổi, được ba mươi bốn tuổi hạ.
Sau đây Ngài trả lời mười một câu hỏi quan trọng:
A. CƯƠNG YẾU CỦA THIỀN TÔNG
1. HỎI: Thế nào là đạo? Lấy cái gì để tu? Phải do tu mới thành hay chẳng cần dụng công?
ÐÁP: Không ngại là đạo, biết vọng là tu, đạo tuy vốn tròn, vọng khởi phiền lụy, vọng niệm hết sạch tức là tu thành công.
2. HỎI: Ðạo nếu nhơn tu mà thành tức là tạo tác, tạo tác thì đồng pháp hư ngụy không thật ở thế gian, thành rồi lại hoại, sao gọi là xuất thế?
ÐÁP: Tạo tác thì kết nghiệp gọi pháp thế gian hư ngụy, không tác (làm) là tu hành tức pháp xuất thế chơn thật.
3. HỎI: Kia tu là đốn hay tiệm? Tiệm thì quên trước mất sau, lấy cái gì tập hợp mà thành? Ðốn thì muôn hạnh nhiều môn, đâu thể một thời đầy đủ?
ÐÁP: Chợt ngộ chơn lý là viên đốn, dứt vọng cần phải tiệm tu (tu dần dần) mới hết. Viên đốn ví như trẻ con sơ sanh trong một ngày các cơ thể đầy đủ. Tiệm tu ví như nuôi dưỡng đến thành nhân, phải nhiều năm mới lập chí khí.
4. HỎI: Phàm tu phát tâm địa khi ngộ tâm là xong, hay riêng có hạnh môn? Nếu riêng có hạnh môn thì sao gọi là đốn chỉ Nam tông (đốn tu)? Nếu ngộ liền đồng chư Phật, sao không phóng quang hiện thần thông?
ÐÁP: Biết băng trên mặt hồ nguyên là nước, nhờ ánh nắng mặt trời dần dần tan, ngộ phàm phu tức chơn, nhờ sức pháp để tu tập. Băng tiêu thì nước trôi chảy, công phương trình tẩy rửa vọng hết thì tâm linh thông, mới có ứng hiện phát quang. Ngoài việc tu tâm không có hạnh môn riêng.
5. HỎI: Nếu chỉ tu tâm mà được thành Phật, cớ sao các Kinh lại nói: "Cần phải trang nghiêm Phật độ, giáo hóa chúng sanh mới gọi thành đạo".
ÐÁP: Gương sáng thì hiện muôn ngàn hình bóng sai khác, tâm tịnh thì ứng hiện muôn ngàn thần thông. Hình bóng ví trang nghiêm Phật độ, thần thông ví giáo hóa chúng sanh, trang nghiêm tức phi trang nghiêm, hình bóng là sắc mà phi sắc.
6. HỎI: Các Kinh đều nói độ thoát chúng sanh, chúng sanh tức phi chúng sanh, tại sao lại nhọc nhằn độ thoát?
ÐÁP: Chúng sanh nếu thật độ được tức là nhọc nhằn, đã nói "tức phi chúng sanh", sao không so sánh độ mà không độ?
7. HỎI: Các Kinh nói "Phật thường trụ" hoặc nói "Phật diệt độ". Thường tức không diệt, diệt tức không phải thường, như vậy là mâu thuẫn nhau.
ÐÁP: Lìa tất cả tướng gọi là chư Phật thì đâu có thật ra đời hay nhập diệt? Thấy ra đời hay nhập là tại cơ duyên. Cơ duyên ứng hợp thì xuất hiện dưới cội Bồ đề. Cơ duyên hết thì nhập Niết bàn giữa hai cây Sa La. Cũng như nước trong, không tâm không hình tượng, không hiện hình tượng không phải có ngã. Bởi vì tướng ngoại chất có đến đi, không phải thân Phật. Ðâu thể nói Như Lai có xuất nhập.
8. HỎI: Thế nào là Phật hóa sanh như chúng sanh kia sanh? Phật đã vô sanh thì là nghĩa gì? Nếu nói tâm sanh pháp sanh, tâm diệt pháp diệt, thì do đâu được Vô sanh pháp nhẫn?
ÐÁP: Ðã nói như hóa, hóa tức là không, không tức là không sanh, sao lại hỏi nghĩa sanh? Sanh diệt diệt rồi thì tịch diệt là chơn, nhận được pháp vô sanh này gọi là Vô sanh pháp nhẫn.
9. HỎI: Chư Phật thành đạo thuyết pháp chỉ vì độ chúng sanh giải thoát, chúng sanh thì có lục đạo, tại sao Phật chỉ hóa hiện ở trong nhơn đạo? Lại Phật sắp diệt độ, trao pháp cho Tổ Ca Diếp dùng tâm truyền tâm cho đến phương này (Trung Hoa), bảy vị Tổ mỗi đời chỉ truyền một người, đã nói rằng đối tất cả chúng sanh coi như con một, tại sao truyền dạy không khắp?
ÐÁP: Mặt trời, mặt trăng lên cao đều soi sáng khắp sáu phương mà người mù không thấy, chậu úp không biết, không phải mặt trời, mặt trăng soi chẳng khắp, tại lỗi che đậy ngăn cách. Ðộ cùng không độ nghĩa giống như vậy, không phải hạn cuộc nơi người trời bỏ các loài quỷ súc. Chỉ vì nhơn đạo hay kiết tập truyền trao không dứt, nên biết Phật hiện trong nhơn đạo. Sắp diệt độ Phật trao pháp cho Tổ Ca Diếp, lần luợt truyền nhau một người, chính vì nhằm vào vị chủ Thiền tông trong một đời. Như trong nước không có hai vua, không phải người được độ chỉ có số dường ấy.
10. HỎI: Hoà Thượng nhơn đâu phải phát tâm? Mộ pháp gì mà xuất gia? Nay tu hành pháp gì? Ðược pháp vị gì? Chỗ tu hành đến địa vị nào? Là trụ tâm tu tâm? Nếu trụ tâm thì ngại tu tâm, nếu tu tâm thì động niệm không an làm sao được gọi là học đạo? Nếu tâm an nhất định thì đâu khác gì môn đồ của định tánh (định tánh Thanh văn)? Cúi mong Ðại Ðức vận dụng đại từ bi theo thứ lớp nói đúng lý như như.
ÐÁP: Biết tứ đại như mộng huyễn, hiểu lục trần như không hoa, ngộ tâm mình là tâm Phật, thấy bản tánh tức pháp tánh là nguyên nhơn phát tâm. Biết tâm không trụ tức là tu hành; không trụ mà "biết" tức là pháp vị. Trụ trước nơi pháp đây là động niệm, như người vào tối thì không thấy vật; nay không có chỗ trụ, không nhiễm không trước, như người có mắt và có ánh sáng mặt trời thấy rõ các vật. Thế thì đâu thể đồng môn đồ của định tánh, đã không có chỗ trụ trước thì đâu luận xứ sở?
11. HỎI: Người ngộ lý dứt vọng thì không kết nghiệp, sau khi mạng chung linh tánh sẽ nương vào đâu?
ÐÁP: Tất cả chúng sanh đều có tánh giác linh minh không tịch, không khác với Phật, chỉ do từ vô thủy kiếp đến nay chưa từng liễu ngộ, vọng chấp thân là tướng của ta, cho nên sanh tình yêu ghét. Theo tình tạo nghiệp, theo nghiệp thọ báo sanh, già, bệnh, chết luân hồi nhiều kiếp. Nhưng, giác tánh trong thân chưa từng sanh tử. Như mộng thấy bị xua đuổi mà thân vẫn nằm yên trên giường. Vốn tự vô sanh thì đâu có chỗ nương gá, tinh lanh không mờ mịt, rõ ràng thường biết, không từ đâu đến cũng không đi đâu. Song, vọng chấp nhiều đời huân tập thành tánh mừng, giận, vui, buồn, trôi chảy nhỏ nhiệm, tuy đã đốn ngộ chơn lý mà tình này không thể dứt liền, cần phải hằng xét nét dần dần tổn giảm. Như gió dừng thì sóng dần dần lặng. Ðâu thể tu hành một đời mà đồng lực dụng của chư Phật, chỉ nên lấy không tịch làm thể của mình, chớ nhận sắc thân này, lấy linh tri là thân của mình, đừng nhận vọng niệm, vọng niệm nếu khởi không nên theo nó, tức là khi sắp mạng chung tự nhiên nghiệp không thể ràng buộc. Tuy có thân trung ấm mà đi đâu tự do, tùy ý đến cõi người, cõi trời thọ sanh. Nếu niệm yêu ghét đã hết sức không thọ nhận thân phần đoạn (thân còn ăn uống thô) tự hay đổi dở thành hay, đổi thô thành diệu. Nếu phần trôi chảy nhỏ nhiệm lắng sạch tất cả, chỉ riêng còn Viên giác Ðại trí sáng suốt, tùy cơ ứng hiện trăm ngàn ức thân độ chúng sanh hữu duyên, gọi đó là Phật.
Ngài có làm tám câu kệ hiển bày ý nghĩa này:
Tác hữu nghĩa sự,
Thị tỉnh ngộ tâm.
Tác vô nghĩa sự,
Thị cuồng loạn tâm.
Cuồng loạn tùy tình niệm,
Lâm chung bị nghiệp khiên.
Tỉnh ngộ bất do tình.
Lâm chung năng chuyển nghiệp.
Dịch:
Làm việc có nghĩa, Là tâm tỉnh ngộ.
Làm việc vô nghĩa,
Là tâm cuồng loạn.
Cuồng loạn theo tình niệm,
Lâm chung bị nghiệp lôi.
Tỉnh ngộ không theo tình,
Lâm chung hay chuyển nghiệp.
*
B. GIẢNG
Về phần lịch sử của ngài Khuê Phong, có những điểm đáng lưu ý:
Ðiểm thứ nhất: "Khi tịch, ngài ngồi kiết già yên lặng, mà dáng mạo lại nghiêm trang, vui vẻ hơn ngày thường". Người đời khi gần tắt thở thì tay co, chân giật, miệng méo, thở hổn hển... còn ngài thì ngồi kiết già yên lặng, vui tươi, điều này cho chúng ta thấy: Ngài tu ngộ đạo làm chủ được thân tâm, nên khi chết tự tại nhẹ nhàng, không bị khổ đau bức bách như người đời.
Ðiểm thứ hai đáng lưu ý hơn nữa là: Chủ trương của ngài Khuê Phong là Thiền Giáo song tu. Thiền là Thiền tông, Giáo là Kinh điển. Tuy dạy tu thiền mà ngài vẫn giảng kinh luận. Vì Thiền và Giáo không hai, nên ngài dùng Thiền và Giáo để giáo hóa môn đồ. Và Thiền viện Chơn Không, chúng tôi cũng chủ trương tương tợ là Thiền Giáo song hành. Bởi muốn sống được với Thiền là phải nương nhờ kinh điển, hiểu được thâm ý của Phật Tổ dạy, rồi mới áp dụng tu hành.
Ngài Khuê Phong sống trong thời phế giáo của Ðường Võ Tôn ở Trung Hoa. Bây giờ Tăng Ni bị hoàn tục, kinh sách bị đốt, chùa bị lấy làm trụ sở chính quyền. Bộ Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập của ngài bị đốt mất, chỉ còn sót lại có bài tựa là tập Thiền Nguyên Chư Thuyên Ðô Tập Tự tức là quyển Nguồn Thiền này. Tuy là bài tựa, nhưng nói lên được ý nghĩa tổng quát toàn bộ sách một trăm quyển. Khi dịch, chúng tôi thấy tên Thiền Nguyên Chư Thiên Ðô Tập Tự quá dài, e người đọc khó nhớ, nên chúng tôi lấy hai chữ đầu Thiền Nguyên dịch là Nguồn Thiền.
Ngài ở đời thứ năm sau Lục Tổ Huệ Năng, thuộc dòng:
1. Thần Hội.
2. Pháp Như.
3. Duy Trung.
4. Ðạo Thuyên.
5. Khuê Phong Tông Mật.
Mười một câu hỏi được ngài trả lời rất quan trọng, nếu không giải thích, e người mới học thiền, đọc rồi cũng như chưa đọc. Vì quyển Nguồn Thiền này ra đời từ năm 1969, tới nay là năm 1971, nó vẫn nằm im trong tủ. Có người thỉnh về để đó, có người đọc ít đoạn không hiểu, cũng để đó. Chính quyển sách này, giúp chúng tôi rất nhiều trong thời gian nhập thất tu tập, được tôi coi là bảo vật. Nên khi ra thất, tôi dịch ngay, vì tôi nghĩ rằng người nào được quyển sách này là được phước lớn. Nhưng không ngờ, từ ngày cuốn sách ra đời đến nay, chẳng mấy người biết được giá trị của nó. Vì vậy, hôm nay chúng tôi phải giảng cho quý vị hiểu, để biết đường lối tu hành.
1. HỎI: Thế nào là đạo? Lấy cái gì để tu? Phải do tu mới thành hay chẳng cần dụng công?
- ÐÁP: Không ngại là đạo, biết vọng là tu, đạo tuy vốn tròn, vọng khởi phiền lụy, vọng niệm hết sạch tức là tu thành công.
Tôi tạm chia câu hỏi và câu trả lời làm ba phần để giải thích cho dễ hiểu:
a. Hỏi: Thế nào là đạo?
- Ðáp: Không ngại là đạo.
Ví dụ: Cái bàn có hình tướng, có kích thước, phải cần có một khoảng trống không gian bằng, hoặc lớn hơn nó mới chứa được nó. Cho nên nói: cáigì có hình tướng đều chướng ngại. Còn đạo thì không hình, không tướng, không có vị trí chỗ nơi, nên không bị ngăn ngại. Không hình, không tướng đây không có nghĩa là hư không, quý vị hiểu cho kỹ chỗ này, không khéo sẽ lầm lẫn rơi vào ngoan không.
Xưa, có một vị khách đến hỏi một thiền sư:
- Thế nào là đạo?
Ngài đáp:
- Vô tâm tức thị đạo
Có nhiều người học Phật nói: Tôi đi cầu Ðạo". Vậy đạo ở đâu mà cầu? Ðạo là chỉ cho "Cái hằng giác" sáng suốt sẵn có nơi mỗi người, còn được gọi là Phật tánh, pháp thân, chân như... Nghe nói đạo, người ta tưởng cái gì ở bên ngoài nên đi tìm cầu. Nhưng thật ra khi nào chúng ta hết vọng niệm là đạo hiện tiền, nếu còn vọng niệm là còn chướng ngại. Vô tâm là tâm không vọng tưởng, vì khi ý thức vừa khởi thì liền có pháp trần duyên theo, hễ có pháp trần là có hình tướng, cho nên chướng ngại. Như vừa dấy niệm nghĩ về người là có bóng dáng người, vừa dấy niệm về cảnh là có hình ảnh cảnh v.v... Vô tâm là tâm trong suốt như mặt gương, có người thì hiện ảnh người, có cảnh thì hiện ảnh cảnh; không người không cảnh thì mặt gương trong suốt. Vậy, tâm không còn dấy niệm nghĩ tưởng là hết chướng ngại, là vô tâm, là đạo.
b. Hỏi: Lấy cái gì để tu?
- Ðáp: Biết vọng là tu.
Từ lâu, chúng ta quen chấp nhận vọng tưởng là tâm mình, nên vọng tưởng khởi liền theo, theo vọng tưởng tức là theo sáu trần, theo sáu trần là theo chướng ngại sanh diệt. Chạy theo chướng ngại sanh diệt, kinh Lăng Nghiêm nói là nhận giặc làm con. Bây giờ, chúng ta biết vọng tưởng là hư dối, không theo thì vọng tưởng lặng; vọng tưởng lặng thì tâm lặng lẽ trong suốt, là vô tâm, là trở về với đạo, là tu. Vì chúng ta chấp nhận vọng tưởng là tâm mình, nên bị hình ảnh, sắc tướng v.v... làm chướng ngại, mà chướng ngại thì không thấy đạo. Bây giờ, vọng tưởng dấy khởi, chúng ta biết nó là vọng tưởng, không chấp nhận, không theo thì nó lặng, mà vọng tưởng lặng là trở về với vô ngại, tức là tu. Thông thường chúng ta hiểu tu là sửa. Như vậy, sửa đồng hồ, sửa xe máy cũng là tu sao? Hoặc như các cô sửa mắt, sửa mũi cũng là tu nữa à? Hiểu như vậy, không thấy được chủ yếu của sự tu hành mà Phật Tổ đã dạy. Chúng ta xét xem những phương pháp tu trong kinh luận có ngoài chủ yếu Biết vọng là tu của ngài không? Ví dụ tu Tịnh Ðộ niệm Nam Mô A Di Ðà Phật để chi vậy? Niệm Phật tuy không cần biết vọng, nhưng buộc tâm vào câu niệm Phật để những vọng niệm khác không dấy khởi, không dẫn đi xa. Có người dùng phương pháp tụng kinh để tu, vậy tụng kinh gõ mõ để làm chi? Ðể vọng tưởng dấy khởi không theo, chỉ nhớ lời kinh để cho tâm được thanh tịnh. Tu theo Mật tông thì dùng câu thần chú để đàn áp vọng niệm. Như vậy, tụng kinh, niệm Phật, trì chú để đàn áp vọng tưởng. Vì người mới tu, vọng niệm dấy khởi mạnh như dòng bạo lưu khó điều phục. Còn tu thiền thì ngay nơi vọng tưởng biết vọng tưởng, không theo tức là dùng trí tuệ nhìn thẳng vọng tưởng, không dùng phương tiện để đàn áp hay kềm chế, nên gọi là trực chỉ. Tôi xin đơn cử một ví dụ cho dễ hiểu: Có một tên ăm trộm vào nhà mà chủ nhà không biết, nhưng người hàng xóm trông thấy. Vì biết tánh ông chủ nhà nhát, sợ ông ấy hốt hoảng, người hàng xóm không dám nói có ăn trộm vô nhà ông, nên kêu ông chủ nhà thắp đèn lên, người hàng xóm bước vô nhà, tên ăn trộm sơ chạy mất. Lại có trường hợp tương tự, ông chủ nhà dạn dĩ nên người hàng xóm kêu ông chủ nhà nói thẳng; "Này anh, thức dạy mau, có ăn trộm vô nhà anh đó!". Ông chủ nhà thức dậy, thấy ăn trộm liền đuổi nó chạy mất.
Ðó là hai trường hợp: một là dùng phương tiện, hai là chỉ thẳng, cũng đều đưa được chú ăn trộm ra khỏi nhà. Cũng thế, niệm Phật, tụng kinh, trì chú là dùng phương tiện để đàn áp vọng tưởng. Còn tu thiền chỉ thẳng cái làm cho con người luân hồi sanh tử, đau khổ triền miên, đó là vọng tưởng. Và khi ứng dụng tu, thì vọng tưởng khởi, không theo, quá đơn giản! Nên người nặng về hình thức, thì xem thường, đâu biết rằng những phương pháp tu mà Phật Tổ dạy nhằm đập tan "Con khỉ ý thức", để trở về với tâm thể thanh tịnh nhất như. Lại cũng có trường hợp: tuy chúng ta tu, nhưng vì bản ngã mà tu, nghe nói tụng kinh có phước thì ham, trì chú linh hiển tiêu tai chướng, được lợi lộc thì thích. Còn tu thiền thì chỉ thẳng không dấu diếm, không dùng phương tiện, quá đơn giản, như lời đáp của ngài Khuê Phong: "Biết vọng là tu" thì thấy thường.
c. Hỏi: Phải do tu mới thành hay chẳng cần dụng công?
- Ðáp: Ðạo tuy vốn tròn, vọng khởi phiền lụy, vọng niệm hết sạch tức là tu thành công.
Ðạo vốn tròn đầy, nhưng vì vọng tưởng làm phiền lụy, lôi chúng ta đi trong luân hổi sanh tử. Nếu vọng tưởng dấy lên không theo thì vọng tưởng hết, khi hoàn toàn sạch vọng tưởng thì Ðạo hiện tiền, nói cách khác là tu thành công. Cũng như đêm rằm có trăng, bầu trời không mây thì trăng sáng rỡ. Nếu biết Ðạo có sẵn mà không chịu dừng vọng tưởng, thì có thấy Ðạo được không? - Không. - Thành thử phải có tu; tu mà không tu, vì Ðạo vốn sẵn có. Cũng như mặt trăng nguyên là sáng, không cần thêm sáng cho nó mà chỉ cần hết mây. Cũng vậy, Ðạo là tâm thanh tịnh trùm khắp, vì vọng tưởng che lấp làm mờ đi, bây giờ chỉ cần buông vọng tưởng, vọng tưởng sạch hết thì tâm thanh tịnh hiện, tạm gọi là thành công, chớ thực ra có gì thành đâu? Như vậy, khi tu chúng ta có cần cầu Phật tới chứng minh hay điểm đạo gì không? Nếu người ngồi thiền mà còn mong Phật tới xoa đầu thọ ký là còn vọng tưởng, mà còn vọng tưởng là còn mê không thấy Ðạo. Chúng ta tu trong bốn oai nghi: đi, đứng, ngồi, nằm. Không còn một vọng niệm và hằng sống được như vậy, dù không muốn thành công, cũng tự thành. Trong kinh A Di Ðà, Phật nói:
- Hoặc một ngày cho đến bảy ngày, nhất tâm bất loạn, thì Phật hiện tiền. Cũng như đi, đứng, ngồi, nằm tâm hằng thanh tịnh, không một chút niệm khởi thì Phật tánh hiện tiền.
Phật tánh tức là tự tánh A Di Ðà. A Di Ðà là vô lượng thọ, vô lượng quang, nghĩa là tuổi thọ vô lượng, ánh sáng vô lượng. Tuổi thọ vô lượng là chỉ cho bất sanh bất diệt, ánh sáng vô lượng là chỉ cho tánh giác hằng sáng. Vì vậy, Phật A Di Ðà là chỉ cho tự tánh thanh tịnh sẵn có nơi mỗi chúng ta.
Ở Nhật Bổn, có hai vị tu sĩ. Một vị tu Thiền và một vị tu Tịnh độ. Một hôm, sư tu Thiền hỏi sư tu Tịnh độ:
- Thầy tu theo pháp nào?
- Dạ, tôi tu theo Tịnh độ.
Sư tu Thiền liền hỏi tiếp:
- Phật A Di Ðà bao nhiêu tuổi?
- Phật A Di Ðà bằng tuổi tôi.
- Thầy năm nay bao nhiêu tuổi?
- Tuổi của tôi bằng tuổi Phật A Di Ðà.
Mới nghe, coi như vị sư ấy ngạo mạn, hỗn láo; vì chúng ta nặng về hình thức, thấy đức Phật A Di Ðà là bậc tôn kính ở ngoài tâm. Phật A Di Ðà ở đây chỉ cho tánh giác sáng suốt bất sanh bất diệt hiện hữu nơi mỗi người, nên hỏi: "Phật A Di Ðà bao nhiêu tuổi?" Trả lời: "Bằng tuổi tôi" tức là bằng tuổi tánh giác của tôi. Hỏi: "Ông bao nhiêu tuổi" Trả lời: "Tuổi tôi bằng tuổi Phật A Di Ðà". Tánh giác là cái bất sanh bất diệt (Vô lượng thọ), sáng suốt trùm khắp (Vô lượng quang) mà lâu nay chúng ta lầm lẫn cho nó ở ngoài mình, nên mãi dong ruổi tìm cầu. Tu Thiền hay tu Tịnh độ, tới chỗ cứu cánh không khác, chỉ vì chúng sanh mắc kẹt trên hình thức nên thấy có sự sai biệt. Nếu chúng ta hiểu như vị sư tu Tịnh độ thì không bao giờ có sự chống báng lẫn nhau. Chúng ta phải biết rõ, tuy có muôn ngàn kinh Phật dạy, muôn ngàn pháp môn tu, nhưng không ngoài bốn chữ Biết vọng là tu.
2. HỎI: Ðạo nếu nhơn tu mà thành tức là tạo tác, tạo tác thì đồng pháp hư ngụy không thật ở thế gian, thành rồi lại hoại, sao gọi là xuất thế?
ÐÁP: Tạo tác thì kết nghiệp gọi pháp thế gian hư ngụy, không tác (làm) là tu hành tức pháp xuất thế chơn thật.
Ý câu hỏi: Ðạo là cái bất sanh bất diệt nếu nói nhơn tu mới thành, thì có tạo tác, có tạo tác thì có sanh diệt. Như vậy, cũng đồng với cái hư giả, có thành có hoại, đâu thể gọi là xuất thế gian bất sanh bất diệt được!
Ngài trả lời: Tạo tác là kết nghiệp, không tạo tác mới là tu hành, là pháp xuất thế chân thật. Tại sao tạo tác là kết nghiệp? - Ví dụ như xây chùa, đúc tượng Phật, làm việc phước thiện là để hưởng phước hữu lậu ở cõi người, cõi trời, còn sanh tử trong tam giới, vì còn nghiệp thiện, chưa giải thoát. Ngài nói: "Không tạo tác là tu hành", tức là vọng tưởng dấy lên, biết nó là vọng tưởng không theo là đủ rồi. Không gầy dựng, không tạo lập, nên nói không tạo tác. Như vậy, đâu có gì gọi là tu hành, nên nói : Tu vô tu tu" (Tu mà không tu ấy mới là tu). Tu như vậy gọi là tu vô vi. Nhớ đừng lầm với lối tu vô vi uống nước lạnh mà bây giờ mọi người đang theo. Vô vi đây có nghĩa là vọng tưởng dấy khởi, biết nó là vọng tưởng không theo, không theo vọng tưởng là trở về với cái bất sanh bất diệt sẵn có nơi mình. Ðó là vô vi, mới là Ðạo xuất thế chân thật.
3. HỎI: Kia tu là đốn hay tiệm? Tiệm thì quên trước mất sau, lấy cái gì tập hợp mà thành? Ðốn thì muôn hạnh nhiều môn, đâu thể một thời đầy đủ?
ÐÁP: Chợt ngộ chơn lý là viên đốn, dứt vọng cần phải tiệm tu (tu dần dần) mới hết. Viên đốn ví như trẻ con sơ sanh trong một ngày các cơ thể đầy đủ. Tiệm tu ví như nuôi dưỡng đến thành nhân, phải nhiều năm mới lập chí khí.
"Kia" là chỉ cho người tu Thiền. Pháp môn đốn là pháp tu tắt không thứ lớp, pháp môn tiệm là pháp tu từ từ có thứ bậc. Ví như đi từ Vũng Tàu đến Saigon, nếu đi đường hàng không thì máy bay cất cánh bay thẳng một mạch tới Saigon đáp xuống, không chạy qua một thành phố nào hết, đó là dụ cho pháp tu đốn. Nếu đi đường bộ, xe phải chạy tuần tự qua cầu Cỏ May, Bà Rịa, Long Thành, Biên Hòa, Thủ Ðức, rồi mới tới Saigon, đó là dụ cho pháp tu tiệm.
"Tiệm thì quên trước mất sau, lấy cái gì tập hợp mà thành?". Ý câu này muốn hỏi: ví như leo thang, bước lên bậc hai thì phải bỏ bậc một, bước lên bậc ba thì phải bỏ bậc hai, đó là quên trước mất sau. Tới bậc này phải bỏ bậc kia, bậc qua rồi thì mất, bậc chưa tới thì chẳng biết. Như vậy làm sao nói chúng hợp mà thành được?
"Ðốn thì muôn hạnh nhiều môn, đâu thể một thời đầy đủ?". Kinh dạy phải tu lục độ vạn hạnh mới đầy công phu thành Phật, nếu chỉ tu pháp môn đốn, thì chỉ trong thời gian chốc lát làm sao thực hành đầy đủ những công hạnh ấy được/
Khi đọc một câu kinh, hay nghe một câu đạo lý, chợt nhận ra nơi mình có "cái không sanh diệt" đó là ngộ chân lý. Tuy trong một thoáng qua là ngộ được chân lý, nhưng vọng tình lâu đời, đâu phải một lúc đã sạch hết, nên cần phải tiệm tu, nghĩa là hằng giờ hằng phút phải buông bỏ vọng tưởng từ từ, một thời gian lâu sau mới hết sạch. Khi vọng tưởng sạch rồi thì "cái không sanh không diệt" mà chúng ta nhận ra khi trước mới tròn sáng. Vì vậy trong nhà thiền chia ra giải ngộ và chứng ngộ. Như Lục Tổ khi nghe người khách tụng kinh Kim Cang, đến câu "Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm" thì ngài giải ngộ. Và đến khi nghe Ngũ Tổ giảng cũng đến câu đó, thì ngài liền chứng ngộ, bèn thốt lên; "Nào ngờ tự tánh vốn thanh tịnh. Nào ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt..."Tôi lấy thêm một thí dụ cho dễ hiểu:
- Ðêm rằm trời có nhiều mây che khuất mặt trăng. Có người muốn chỉ mặt trăng cho đứa bé, phải chờ cho mây bay qua để lộ mặt trăng ra mới chỉ cho đứa bé thấy được. Nhưng đứa bé vừa thấy mặt trăng, thì mây bay tới che khuất mặt trăng trở lại như cũ. Bấy giờ đứa bé đã biết trên bầu trời có mặt trăng tròn sáng đấy, nhưng phải chờ mây tan hết thì mặt trăng mới lộ nguyên hình tròn sáng. Sự tu hành của chúng ta cũng vậy, khi đọc một câu kinh hay nghe một câu đạo lý, chợt nhận ra nơi mình có cái "không sanh không diệt". Nhưng nhận ra rồi không phải sống được với nó liền, mà phải buông bỏ từ từ các vọng tình chấp trước cho sạch hết, thì "tánh bất sanh bất diệt" mới hiển hiện tròn sáng. Cũng như đứa bé sanh ra chỉ khoảng nửa tiếng đồng hồ, nhưng muốn nó thành người lớn có đầy đủ sự hiểu biết thì ít ra cũng phải vài chục năm.
4. HỎI: Phàm tu phát tâm địa khi ngộ tâm là xong, hay riêng có hạnh môn? Nếu riêng có hạnh môn thì sao gọi là đốn chỉ Nam tông (đốn tu)? Nếu ngộ liền đồng chư Phật, sao không phóng quang hiện thần thông?
Câu này tạm chia ra ba phần để giải thích:
a. Phàm, tu phát tâm địa khi ngộ tâm là xong, hay riêng có hạnh môn khác?
Tâm địa là chỉ cho pháp môn Thiền tông. Khi ở hội Linh Sơn, Phật truyền cho ngài Ca Diếp là truyền pháp môn tâm địa này. Ðịa là đất, tất cả người, vật, nhà cửa, núi sông... đều nương nơi đất mà có. Cũng thế tất cả các pháp từ người đến vạn vật, gốc từ tâm mà ra. Pháp môn tâm địa là pháp môn tu ngộ thẳng bản tâm mình.
b. Nếu riêng có hạnh môn thì sao gọi là đốn chỉ Nam tông (đốn tu)?
Ðốn chỉ Nam tông là chỉ cho thiền đốn giáo của Lục Tổ Huệ Năng, đối lại với Bắc tông của ngài Thần Tú, chủ trương tiệm tu. Khác với Nam tông Phật giáo là chỉ cho hệ Phật giáo Ấn Ðộ được truyền về phương Nam, còn hệ truyền về phương Bắc thì gọi là Bắc tông.
c. Nếu ngộ liền đồng chư Phật, sao không phóng quang hiện thần thông?
Ý câu này muốn hỏi: nếu đốn ngộ thì liền đồng với chư Phật, sao không thấy các ngài phóng quang và hiện thần thông?
ÐÁP: Biết băng trên mặt hồ nguyên là nước, nhờ ánh nắng mặt trời dần dần tan, ngộ phàm phu tức chơn, nhờ sức pháp để tu tập. Băng tiêu thì nước trôi chảy, công phương trình tẩy rửa vọng hết thì tâm linh thông, mới có ứng hiện phát quang. Ngoài việc tu tâm không có hạnh môn riêng.
Tuy biết băng trên mặt hồ, nguyên thể của nó là nước. Nhưng vì đã đóng thành khối (băng) thì không dùng xài được, mà phải nhờ ánh sáng mặt trời chiếu soi thì băng mới tan dần dần. Khi băng đã tan thành nước thì mới đem ra dùng vào việc nấu ăn, uống, giặt rửa, tắm gội... Cũng vậy, nhận ra nơi mình có tánh bất sanh bất diệt, nhưng không phải nhận ra là viên mãn quả Phật, mà phải nhờ tu từ từ mới dứt hết vọng tưởng. Khi vọng tưởng hoàn toàn sạch rồi, mới thể nhập được tâm thể bất sanh bất diệt và khởi ra vô lượng diệu dụng. Tóm lại ngoài việc tu tâm không có hạnh môn riêng khác, và đốn chỉ Nam tông chỉ có một môn là biết vọng tưởng. Khi vọng tưởng hết sạch thì đồng với chư Phật.
5. HỎI: Nếu chỉ tu tâm mà được thành Phật, cớ sao các Kinh lại nói: "Cần phải trang nghiêm Phật độ, giáo hóa chúng sanh mới gọi thành đạo".
Nếu chỉ tu tâm là được thành Phật, thì tại sao trong kinh dạy phải trang nghiêm Phật độ, giáo hóa chúng sanh mới được thành Phật? Vậy, nếu chúng ta cứ ngồi tu hoài không độ ai hết thì làm sao thành Phật? Câu này đối với người tu niềm tin chưa vững sẽ lúng túng, không biết nên lo tu hay nên đi giáo hóa chúng sanh?
ÐÁP: Gương sáng thì hiện muôn ngàn hình bóng sai khác, tâm tịnh thì ứng hiện muôn ngàn thần thông. Hình bóng ví trang nghiêm Phật độ, thần thông ví giáo hóa chúng sanh, trang nghiêm tức phi trang nghiêm, hình bóng là sắc mà phi sắc.
Ví dụ một tấm gương sáng, tất cả mọi hình bóng sai khác đều hiện rõ trong gương không ảnh nào làm ngăn ngại nhau. Cũng thế, khi tâm thanh tịnh thì cũng một tâm này ứng hiện muôn ngàn thần thông không chướng ngại. Hình bóng hiện rõ ràng trong gương là dụ cho trang nghiêm Phật độ, không bóng nào làm ngại bóng nào là thần thông diệu dụng, dụ cho giáo hóa chúng sanh. Trang nghiêm tức phi trang nghiêm là do tu, mọi vọng niệm lắng xuống thì tâm thể thanh tịnh sáng suốt. Tâm thể vốn tự sáng suốt chỉ vì vọng tưởng che nên nó mờ khuất. Vọng tưởng sạch, tâm thể thanh tịnh sáng suốt hiện bày, tạm gọi là trang nghiêm. Theo thế thường, trang nghiêm là tạo tác, sửa sang, cái gì hư xấu thì sửa chữa trang hoàng lại cho đẹp đẽ khang trang, gọi đó động tác sửa sang có hình tướng, là trang nghiêm. Còn tâm thể thì không có hình tướng, vốn nó đã tự sáng khi hết vọng tưởng là nó hiện rõ ràng, không có sửa chữa trang hoàng chi cả, nên gọi là trang nghiêm tức phi trang nghiêm. "Hình bóng là sắc mà phi sắc", bóng ở trong gương là bóng người, bóng vật... tức là sắc. Tuy là sắc, nhưng là bóng không thật nên nói là phi sắc.
Người tu thiền buông hết vọng tưởng, tâm được thanh tịnh sáng suốt là trang nghiêm Phật độ. Người tu Tịnh độ niệm Phật nhất tâm bất loạn mới là trang nghiêm cõi Cực lạc.
Vấn đề giáo hóa chúng sanh, có nhiều vị hiểu lầm cho rằng những vị ẩn tu là tiêu cực, yếm thế, không làm lợi ích cho chúng sanh, người nào làm Phật sự này, từ thiện nọ là tích cực hành Lục độ giáo hóa chúng sanh. Chúng ta nên hiểu giáo hóa như thế nào mới đúng với chân tinh thần của đạo Phật? Trong kinh Phật dạy:
- Cái khổ ở trong địa ngục bị thiêu đốt cũng chưa phải là khổ, cái khổ làm ngạ quỷ bị đói khát cũng chưa phải là khổ, cái khổ làm súc sinh kéo cày, bị đánh cũng chưa phải là khổ. Cái khổ Vô minh không biết đường đi mới là khổ.
Vô minh là mờ mịt, tạo tội lỗi, trầm luân vĩnh viễn trong sáu đường không biết lối ra, đó mới là cái khổ lớn của chúng sanh. Cho nên, đạo Phật chủ trương cứu khổ là dạy cho chúng sanh phá được cái ách vô minh mà họ đã đeo từ ngàn muôn kiếp tới nay. Khiến cho họ được tỉnh giác biết đường tu, để thoát vòng sanh tử luân hồi. Ðó mới thực là cứu khổ. Còn dạy cho họ biết ăn ở hiền lành hoặc giúp đỡ cho họ bớt đói lạnh, chỉ là yếu tố cứu khổ nho nhỏ. Cũng như ông thầy thuốc, muốn trị hết bệnh thì phải trị tận gốc, nếu trị nơi ngọn, chỉ làm giảm cơn đau trong cấp thời, chớ không hết bệnh.
Ví như người cờ bạc, rượu chè, nhà nghèo, vợ con đói rách, chúng ta động lòng từ đem cho họ năm ba lít gạo, họ đỡ đói được vài hôm, nhưng cái bệnh cờ bạc, rượu chè không bỏ thì họ vẫn còn đói khổ. Chỉ có cách là chúng ta cho họ một lần, hoặc không cho cũng được, mà phải giảng cho họ hiểu sự tai hại của cờ bạc, rượu chè là gốc làm cho họ và gia đình họ đói khổ. Chỉ ngay cái gốc, nếu họ tỉnh giác bỏ được bịnh ấy thì họ mới hết khổ. Ðó là việc làm cứu khổ lâu dài, cho một vài lít gạo chỉ là việc cứu khổ cấp thời, sau đó họ sẽ khổ nữa. Mục đích của chúng ta là tu là chứng đạo giải thoát, một câu nói, một lời giảng của chúng ta có thể đưa bao nhiêu người thoát ra khỏi biển sanh tử luân hồi. Ðức Phật sau khi thành đạo, với trí huệ sáng suốt, dùng nhiều phương tiện tùy cơ giáo hóa vô số chúng sanh ra khỏi luân hồi sanh tử.
Tuy nhiên, việc giáo hóa cao thấp cũng còn tùy ở trình độ tu học của hành giả, có người vừa tu vừa giáo hóa, có người tu viên mãn rồi mới ra giáo hóa. Việc làm nào cũng tốt. Giống như người học trò đi học, học tới Trung học, thấy dân dốt quá, ra làm thầy, dạy cho dân học đỡ dốt. Lại, cũng có người tuy thấy dân dốt, nhưng cứ chăm chỉ học đến Ðại học mới ra giảng dạy. Như vậy, chúng ta chớ vội cho rằng người thứ hai là ích kỷ, phải hiểu chỗ này cho rõ, để khỏi lầm lẫn.
6. HỎI: Các Kinh đều nói độ thoát chúng sanh, chúng sanh tức phi chúng sanh, tại sao lại nhọc nhằn độ thoát?
Ðây là y cứ theo kinh Kim Cang: tất cả chúng sanh hiện có đây, là do ngũ uẩn tứ đại hòa hợp mà thành, nên huyễn hóa không thật (chúng sanh tức phi chúng sanh), đã là huyễn hóa, thì chúng sanh chẳng phải là chúng sanh, tại sao phải nhọc nhằn độ thoát?
ÐÁP: Chúng sanh nếu thật độ được tức là nhọc nhằn, đã nói "tức phi chúng sanh", sao không so sánh độ mà không độ?
Nếu còn thấy chúng sanh là thật thì mới độ, vì thật độ nên mới nhọc nhằn. Nếu thấy chúng sanh không thật, sao không thấy độ mà không thật độ? Câu hỏi này có cái lỗi là chúng sanh không thật, mà thấy người độ thật, nên mới thấy độ sanh là nhọc nhằn. Có lắm người học đạo lầm lẫn, thấy tất cả không thật mà thấy mình thật nên khởi niệm thụ hưởng, không lo tu, không chịu làm lợi ích cho người. Nếu thấy mình giả, người giả, họ khổ mình cứu giúp, đem thân giả làm việc giả có gì là nhọc nhằn? Nên ngài nói: "Ðộ mà không độ". Kinh Kim Cang nói: "Ðộ tất cả chúng sanh mà không thấy mình là người hay độ, chúng sanh là kẻ được độ". Thấy người giả mà thấy mình thật, là chưa hiểu kinh Kim Cang. Vì mắc kẹt chỗ này nên mới có quan niệm như vậy. Nếu thấy người giả, mình cũng giả thì cứ lăn vô mà làm, cái giả làm cho cái giả cũng giống như trò chơi, có gì là mệt mỏi nhọc nhằn?
7.- HỎI: Các Kinh nói "Phật thường trụ" hoặc nói "Phật diệt độ". Thường tức không diệt, diệt tức không phải thường, như vậy là mâu thuẫn nhau.
Theo kinh A Hàm nói: Phật nhập Niết bàn lúc tám mươi tuổi, các kinh Ðại thừa thì nói tuổi Phật vô lượng vô biên. Như vậy, có kinh nói Phật diệt độ, có kinh nói Phật thường trụ, nói vậy có mâu thuẫn nhau không? Nếu thường trụ thì không diệt, diệt thì không thường, tại sao kinh nói mâu thuẫn nhau vậy?
ÐÁP: Lìa tất cả tướng gọi là chư Phật thì đâu có thật ra đời hay nhập diệt? Thấy ra đời hay nhập là tại cơ duyên. Cơ duyên ứng hợp thì xuất hiện dưới cội Bồ đề. Cơ duyên hết thì nhập Niết bàn giữa hai cây Sa La. Cũng như nước trong, không tâm không hình tượng, không hiện hình tượng không phải có ngã. Bởi vì tướng ngoại chất có đến đi, không phải thân Phật. Ðâu thể nói Như Lai có xuất nhập.
Nói Phật diệt độ là căn cứ Hóa thân, nói Phật thường trụ là căn cứ Pháp thân. Hóa thân thì tùy duyên ứng hiện, hết duyên thì tan rã nên có sanh diệt. Pháp thân thì không hình tướng, nên không sanh diệt gọi là thường trụ, nên đây nói: "Lìa tất cả tướng gọi là chư Phật", như vậy đâu có ra đời hay nhập diệt. Pháp thân lìa tất cả tướng nên không sanh không diệt. Thấy có ra đời hay nhập diệt là tại cơ duyên; cơ duyên hợp thì thành đạo dưới cội Bồ đề, cơ duyên hết thì nhập Niết bàn dưới hai cây Sa La, đó là hóa thân Phật. Nếu hiểu rõ chỗ này thì đọc kinh không còn nghi ngờ. Kinh Tiểu thừa thì luôn luôn nói đến Hóa thân Phật, tức là đức Phật Thích Ca, có lịch sử ở Ấn Ðộ; kinh Ðại thừa nói đến Pháp thân Phật. Như kinh Pháp Hoa nói: "Tuổi thọ Phật vô lượng vô biên", đó là chỉ cho pháp thân bất sanh bất diệt sẵn có nơi mỗi người. Rồi nói: "Chư Bồ tát từ đất vọt lên râu tóc bạc phơ, trò già hơn thầy". Ðiều này rất khó tin! Nhưng Bồ tát nào không từ pháp thân hiện? Nên mới nói tất cả Bồ tát đều là đệ tử của Phật (Pháp thân). Ngài ví dụ: "Cũng như nước trong không tâm không hình tượng, không hiện hình tượng, không phải có ngã". Khi chúng ta nhìn xuống hồ nước trong, thấy có bóng chúng ta trong ấy. Nhưng hồ nước có tâm muốn hiện hình bóng chúng ta không? - Không. - Vì sao? Vì nó không có ngã chấp. Nước trong vô tâm, hình tượng đến tùy duyên hiện. Cũng vậy, chúng ta tu khi ngộ đạo, tâm hoàn toàn thanh tịnh (nước trong), lúc đó mới hoàn toàn sống với pháp thân, từ đó mới tùy cơ duyên mà ứng hiện ra hóa thân. Ngài nói thêm: "Bởi vì tướng ngoại chất có đến có đi, không phải thân Phật, đâu thể nói Như Lai có xuất nhập". Tướng ngoại chất thì có đến có đi không phải thân Phật; thân Phật là pháp thân, mà pháp thân thì không đi không đến, pháp thân dụ cho hồ nước trong, còn sự đến đi là ngoại vật, ngoại vật đến thì bóng hiện, ngoại vật đi thì không bóng. Cũng thế, khi nào có duyên thì từ pháp thân liền ứng hóa thân độ sanh, hết duyên thì trở về pháp thân, thường gọi là bọt tan về biển. Nên không thể nói Như Lai có xuất nhập.
8. HỎI: Thế nào là Phật hóa sanh như chúng sanh kia sanh? Phật đã vô sanh thì là nghĩa gì? Nếu nói tâm sanh pháp sanh, tâm diệt pháp diệt, thì do đâu được Vô sanh pháp nhẫn?
Phật hóa sanh, là Phật cũng sanh ra như những chúng sanh khác, có cha mẹ như Phật Thích Ca ở Ấn Ðộ; đã nói Phật vô sanh tại sao lại sanh? Vô sanh pháp nhẫn là không sanh không diệt, mà nói tâm sanh pháp sanh, tâm diệt pháp diệt thì chừng nào được vô sanh pháp nhẫn.
ÐÁP: Ðã nói như hóa, hóa tức là không, không tức là không sanh, sao lại hỏi nghĩa sanh? Sanh diệt diệt rồi thì tịch diệt là chơn, nhận được pháp vô sanh này gọi là Vô sanh pháp nhẫn.
Huyễn hóa là không thật, đã không thật nên tuy có sanh cũng như không sanh, tại sao nói nghĩa sanh? Hỏi như vậy là chưa thấy "như huyễn như hóa". Kinh Ðại thừa nói: "Ðức Phật Thích Ca rời cung trời Ðâu Suất vào thai mẹ v.v..." mà lúc nào cũng không rời pháp thân thanh tịnh. Cho nên nói Phật sanh là chỉ cho hóa thân, hóa thân thì không thật, không thật thì sanh cũng như không sanh.
Sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là chơn, câu này trích từ kinh Niết bàn, nghĩa là vọng niệm dấy lên là sanh, vọng niệm lặng xuống là diệt. Vọng niệm cứ sanh diệt, nối tiếp nhau không ngừng. Khi nào cái sanh diệt đó vắng lặng (tịch diệt), lúc đó là chơn tâm hiển hiện, tức là chơn, là Niết bàn.
Vậy, Niết bàn là khi tâm chúng ta sạch hết vọng tưởng, nó không hình tướng mà lặng lẽ thường sáng. Ðừng có hiểu lầm Niết bàn là một cõi an lạc, một cảnh giới rực rỡ ngoài tâm để đi tìm cầu. Ðây là bản chỉ đường đi trở về ngôi nhà pháp thân, quá rõ ràng không còn phải nghi ngờ. Khi nhận được pháp vô sanh này, gọi là: "Vô sanh pháp nhẫn". Chính cái "Tịch diệt là chơn" là vô sanh pháp nhẫn. Có nhiều cho rằng ở cõi Ta Bà này tu lai rai, chết về Cực lạc tiếp tục tu nữa, khi thành Phật được vô sanh pháp nhẫn, rồi trở lại cõi Ta bà độ sanh. Hiểu như vậy là quá lầm lẫn. Ngài Khuê Phong nói: "Nhận được pháp vô sanh này gọi là vô sanh pháp nhẫn". Nghĩa là ngay nơi thân tứ đại này mọi vọng niệm dứt sạch, thì "cái vô sanh" hiện tiền, đó là vô sanh pháp nhẫn, lúc ấy tùy duyên độ sanh chớ không đi tìm đâu xa.
9. HỎI: Chư Phật thành đạo thuyết pháp chỉ vì độ chúng sanh giải thoát, chúng sanh thì có lục đạo, tại sao Phật chỉ hóa hiện ở trong nhơn đạo? Lại Phật sắp diệt độ, trao pháp cho Tổ Ca Diếp dùng tâm truyền tâm cho đến phương này (Trung Hoa), bảy vị Tổ mỗi đời chỉ truyền một người, đã nói rằng đối tất cả chúng sanh coi như con một, tại sao truyền dạy không khắp?
Phật nói độ hết tất cả chúng sanh, mà chúng sanh thì gồm cả lục đạo, tại sao Phật chỉ hóa độ ở cõi người (nhơn đạo)? Như vậy làm sao độ khắp, nếu độ không khắp thì đức Phật thiếu từ bi? Chư Tổ cũng vậy, từ Tổ Ca Diếp tới các vị Tổ Trung Hoa, một vị truyền cho một người thì đâu có độ khắp, cũng như đức Phật, chư Tổ cũng thiếu từ bi.
ÐÁP: Mặt trời, mặt trăng lên cao đều soi sáng khắp sáu phương mà người mù không thấy, chậu úp không biết, không phải mặt trời, mặt trăng soi chẳng khắp, tại lỗi che đậy ngăn cách. Ðộ cùng không độ nghĩa giống như vậy, không phải hạn cuộc nơi người trời bỏ các loài quỷ súc. Chỉ vì nhơn đạo hay kiết tập truyền trao không dứt, nên biết Phật hiện trong nhơn đạo. Sắp diệt độ Phật trao pháp cho Tổ Ca Diếp, lần lượt truyền nhau một người, chính vì nhằm vào vị chủ Thiền tông trong một đời. Như trong nước không có hai vua, không phải người được độ chỉ có số dường ấy.
Nghi vấn về đức Phật giáo hóa chúng sanh không khắp hết. Ngài Khuê Phong đáp bằng một ví dụ: như mặt trời mặt trăng khi lên cao thì không chỗ nào là không soi đến. Nhưng dưới chậu úp không có ánh sáng, người mù không thấy sáng, lỗi ấy là tại chậu úp ngăn che, người mù không thấy, chớ không phải mặt trời mặt trăng không chiếu sáng. Cũng vậy, Phật độ tất cả chúng sanh, nhưng ai có duyên thì tương ứng được độ, ai không có duyên thì không tương ứng tự ngăn ngại, chớ Phật đâu có tư vị. Vả lại, chúng ta ở trong cõi người, chỉ thấy biết trong phạm vi loài người, nên thấy Phật chỉ giáo hóa cõi người. Chúng ta đâu có ở trong loài ngạ quỷ, súc sanh... mà biết Phật có hiện hay không hiện. Câu hỏi này cho thấy người hỏi, người nhớ tiền thân đức Phật đã từng làm thân loài này, loài kia để độ chúng.
Về chư Tổ, ngài nói: "Mỗi vị Tổ truyền trao cho một vị" là nhằm vào vị đó để làm chủ Thiền tông, ngoài ra còn nhiều vị khác nữa. Cũng như một nước không có hai vua, chỉ có một vua đứng ra lãnh đạo cả nước, còn những người khác là quần thần phụ với vị vua ấy trị dân. Nghĩa là một vị Tổ dạy rất nhiều đồ đệ, nhưng chỉ chọn một người truyền trao y bát, để giữ gìn giềng mối của tông môn. Như Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma sang Trung quốc, ngài truyền cho Tổ Huệ Khả, nhưng ngoài Tổ Huệ Khả ra còn có ngài Tăng Dục, Ni Tổng Trì... Cũng như Ngũ Tổ, đâu phải chỉ dạy riêng cho Lục Tổ mà còn bao nhiêu vị nữa như ngài Thần Tú..., như vậy không phải chư Tổ truyền trao chỉ có một người, mà các ngài chọn một người nổi bật nhất truyền y bát để người sau tin tưởng và dễ giáo hóa họ.
*
10. HỎI: Hoà Thượng nhơn đâu phải phát tâm? Mộ pháp gì mà xuất gia? Nay tu hành pháp gì? Ðược pháp vị gì? Chỗ tu hành đến địa vị nào? Là trụ tâm tu tâm? Nếu trụ tâm thì ngại tu tâm, nếu tu tâm thì động niệm không an làm sao được gọi là học đạo? Nếu tâm an nhất định thì đâu khác gì môn đồ của định tánh (định tánh Thanh văn)? Cúi mong Ðại Ðức vận dụng đại từ bi theo thứ lớp nói đúng lý như như.
ÐÁP: Biết tứ đại như mộng huyễn, hiểu lục trần như không hoa, ngộ tâm mình là tâm Phật, thấy bản tánh tức pháp tánh là nguyên nhơn phát tâm. Biết tâm không trụ tức là tu hành; không trụ mà "biết" tức là pháp vị. Trụ trước nơi pháp đây là động niệm, như người vào tối thì không thấy vật; nay không có chỗ trụ, không nhiễm không trước, như người có mắt và có ánh sáng mặt trời thấy rõ các vật. Thế thì đâu thể đồng môn đồ của định tánh, đã không có chỗ trụ trước thì đâu luận xứ sở?
- Biết tứ đại như mộng huyễn, hiểu lục trần như không hoa, ngộ tâm mình là tâm Phật, thấy bản tánh tức pháp tánh là nguyên nhơn phát tâm. Ngài phát tâm như thế, trước hết là biết rõ thân tứ đại như mộng huyễn, sáu trần như hoa đốm giữa hư không. Ngay nơi tâm mình nhận ra cái không sanh không diệt, đó là tâm Phật. Biết rõ tất cả pháp tự tánh là không, duyên hợp huyễn có, đólà thấy bản tánh tức pháp tánh. Nguyên nhân phát tâm của ngài là như vậy. Xét lại nếu người tu ai cũng phát tâm như ngài thì tu rất mau ngộ đạo. Nhưng những điều ngài thấy biết để phát tâm, điều nào chúng ta cũng chưa có, nên tu một thời gian rồi cũng kẹt cũng dính, rối thối tâm. Nếu chúng ta thấy thân như mộng huyễn, thấy ngoại cảnh như không hoa, thấy tâm mình là tâm Phật, thấy bản tánh tức pháp tánh thì còn gì nhiễm trước, còn gì thối tâm tu. Ngài trả lời là dạy chúng ta cách phát tâm. Muốn tu hành chơn chánh, không lui sụt, và kết quả thành Phật thì phải thấy được như vậy. Nhưng muốn thấy được như vậy, trước hết phải vận dụng trí Bát nhã thấy thân như mộng huyễn, sáu trần như không hoa. Từ đó mới ngộ tâm mình là tâm Phật và bản tánh tức pháp tánh. Từ cửa Bát nhã là cửa Không, bước vào nhà mới thấy ông chủ (tâm Phật) và hằng sống được với ông chủ, mới mong được giải thoát sanh tử. Vì vậy, trong Thiền tông có câu: "Dĩ tâm vi tông", lấy tâm làm chủ. "Dĩ vô môn vi pháp môn", lấy cửa không làm cửa pháp. Ðó là chủ yếu của Thiền tông. Tất cả người tu đều phải thấy và phát tâm như ngài mới khỏi bị lầm lạc và sẽ thành Phật đạo.
- Biết tâm không trụ tức là tu hành. Ở trước, ngài nói biết vọng không theo tức là tu. Ðây, ngài lại nói biết tâm không trụ tức là tu hành, tâm không trụ tức là tâm hư vọng, chỉ đổi danh từ. Tâm hư vọng là sanh diệt luôn luôn không dừng, biết rõ nó như vậy thì nó lặng dứt. Thay vì nói biết vọng là tu thì nói biết tâm không trụ là tu cũng vậy thôi. Vì tâm không trụ là tâm hư vọng.
- Không trụ mà "biết" tức là pháp vị. Chữ trụ ở trên và chữ trụ trong câu này nghĩa khác nhau. Chữ trụ ở trên là chỉ cho tâm sanh diệt không dừng. Còn chữ trụ ở câu này là dính mắc, nói một cách khác là tâm không dừng là trụ ở một nơi nào. Như Lục Tổ khi nghe câu "Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm" trong kinh Kim Cang, ngài liền ngộ đạo. Vì ngài thấy không còn chỗ trụ tâm, nghĩa là đối với sáu trần tâm không dính mắc. Tôi đưa một ví dụ cho dễ hiểu: Như mắt tôi nhìn cái đồng hồ, tức là nhãn căn tiếp xúc với sắc trần. Khi ấy tâm tôi không khởi niệm phân biệt cái đồng hồ đẹp hay xấu, nên không có khởi niệm thủ xả, tôi chỉ biết đây là cái đồng hồ. Như vậy là tâm tôi không dính mắc vào sắc trần. Các trần kia cũng vậy. Nếu sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không chạy theo sáu trần, ấy là tâm không trụ. Không trụ mà biết, chớ không phải không trụ mà loạn, đó là pháp vị. Nếu vị nào tu thiền hơi khá khá là biết điều này. Ngồi thiền chừng năm mười phút, không có một vọng tưởng nào dấy khởi, tâm yên tỉnh, lúc ấy tâm không trụ vào sáu trần. Tuy yên tĩnh mà tâm hằng biết, phải hiểu chỗ này cho kỹ, nếu không thì sẽ lầm lẫn. Khi tâm không có một vọng tưởng dấy lên, tức là không dính mắc vào sáu trần để phân biệt ngoại cảnh, nhưng chúng ta vẫn lặng lẽ thường biết. Nhà thiền còn gọi là "Liễu liễu thường tri" đó là pháp vị. Nhưng có người tu tới chỗ yên lặng, mà không biết rồi hoảng hốt đó là bịnh. Người tu mà tới đó thì an nhiên tự tại lắm, vì đó là pháp vị.
- Trụ trước nơi pháp đây là động niệm, như người vào tối thì không thấy vật; nay không có chỗ trụ, không nhiễm không trước, như người có mắt và có ánh sáng mặt trời thấy rõ các vật. Trụ trước nơi pháp tức là tâm duyên theo sự vật, đó là động niệm. Người trụ trước nơi pháp, chẳng khác nào người đi vào nhà tối không thấy gì hết. Khi tâm không duyên theo cảnh lặng lẽ an nhiên, chẳng khác nào người có mắt lại có ánh sáng mặt trời thấy rõ các vật. Nên biết, người tu khi tâm thanh tịnh thì trí tuệ phát sáng là vậy. Thông thường chúng ta tu là mong được trí tuệ, nhưng tâm đang loạn tưởng lăng xăng, làm sao trí tuệ phát sáng được? Cho nên, khi tâm chưa thanh tịnh thì phải dùng huệ huân, tức là dùng trí Bát nhã chiếu soi để phá mê lầm, khi tâm dứt hết vọng tưởng thì trí tuệ hiên bày. Ðó là cái sáng từ tâm, do định mà phát huệ, điều đó rõ ràng không lầm lẫn.. Giả sử khi tâm chúng ta đang lo lắng, rối rắm, có ai đem một vấn đề gì bàn bạc thì chúng ta không thể nào có được sự nhận xét và góp ý chính xác. Cho nên muốn quyết định điều gì chính xác thì tâm phải yên lặng tĩnh táo. Sự yên tĩnh tạm dụ cho tâm định, do định mới phát sáng. Sự tu hành của đạo Phật không có gì huyền bí mà lại có diêụ dụng. Khi nào tâm chúng ta không còn trụ trước nơi sáu trần, thì lúc đó có đủ thần thông diệu dụng. Nhưng có lắm người tu quen theo lối chất chứa, cả đời cứ lo chất chứa đầy đầu, học cái này, nghiên cứu cái kia. Khi ngồi lại thì tính đủ chuyện, nhớ câu luận này, câu kinh nọ, khi nói thì dẫn chứng danh ngôn, danh cú. Thông minh quá nên coi thiên hạ không ra gì. Ở đây, Phật Tổ dạy khi ngồi thiền chúng ta phải bỏ hết mọi nhớ tưởng từ hồi nào đến giờ, để cho tâm được yên tĩnh. Nhưng có lắm người sợ bỏ hết rồi ngu. Chúng ta đừng sợ ngu, mà chỉ sợ chúng ta không bỏ hết được. Khi buông bỏ hết rồi thì lúc đó tâm chúng ta sẽ sáng suốt. Trong nhà Phật có câu "Bỏ tất cả là được tất cả". Vì vậy, chúng ta phải biết bỏ vọng tưởng không phải là ngu "Ngu mà không ngu".
Thuở xưa, Sư cụ pháp chủ chùa Phước Hậu (tôi gọi là sư ông), mỗi lúc rãnh rỗi, ngài hay kể chuyện khi ngài còn ở ngoài Trung. Tại Phú Yên, có một vị hòa thượng, bình thường ngài không để ý gì hết, lâu lâu tới bữa tắm chú thị giả thưa:
- Bạch Hòa thượng bữa nay tắm.
- Ngài hỏi:
- Tắm hả? Ngài gật đầu rồi đi tắm. Ðến bữa cơm, chú thị giả thưa:
- Bạch Hòa thượng dùng cơm.
Ngài gật đầu rồi đi dùng cơm, ngoài ra không còn nhớ gì hết. Một hôm có vị trụ trì ở chùa trên triền núi, thỉnh ngài đến làm Hòa thượng, chứng minh lễ an cư. Ðường đi đến chùa đó phải lội qua nhiều suối. Khi đi ngang qua một dòng suối cạn, nước tới lưng quần. Sợ ướt đồ, hai thầy trò cởi trần người qua suối. Qua suối lên bờ ngài cứ đi thẳng không mặc đồ. Chú thị giả thưa:- Bạch Hòa thượng mặc đồ vô.
Hòa thượng đứng lại mặc đồ vô, rồi đi tới chùa làm lễ an cư. Thầy trụ trì tổ chức rất lớn, đông đảo tín đồ, chư Tăng tụ họp an cư cũng đông. Làm lễ xong, ngài chỉ vùng kiết giới, bảo chư Tăng:
- Các ông phải đắp chung quanh lên cao chừng năm tấc, kẻo ngập nước.
Các thầy nghe không tin, vì ngoài Trung ba tháng an cư chưa có mưa lớn, làm gì có nước ngập. Nhưng vì nể ngài nên chư Tăng cũng dạ, dạ...
Lễ an cư ngày trước thì ngày sau có một số lính (trào Pháp) vô làm tiền, đòi giấy tờ làm khó mấy thầy. Chư Tăng lúng túng không biết làm sao mới trình bạch việc ấy với Hòa thượng. Hòa thượng nói:
- À, thôi để tôi coi.
Ngài vô liêu, xổ mùng ngồi một hồi, trở ra bảo:
- Thôi, không sao đâu, các ông an tâm, một lát có Hộ pháp đuổi nó.
Quả thực, chừng nửa giờ sau có ông Quận trưởng đến, các chú lính hoảng sợ đi mất.
Ở trong hạ, nửa tháng sau có một cơn mưa lũ, nước lên bốn tấc, tràn ngập hết, các thầy kinh ngạc mới biết là Hòa thượng nói không sai.
Chúng ta thấy hiện tại ngài khờ khạo, coi như không biết gì, nhưng cần gì thì biết, biết được chuyện gần chuyện xa. Còn chúng ta lại khôn quá, biết đủ thứ hết, ngồi lại thì nhớ đông nhớ tây, cho nên muốn biết cái cần biết lại không biết được. Thành ra coi như biết nhiều mà thật không biết. Còn ngài, coi như không biết mà biết, đó là điều đặc biệt của nhà thiền. Ở đây tôi thường tuyên bố với chư Tăng ni:
- Chủ trương của tôi là ngu dân. Quí vị có sợ không? Vì bao nhiêu kiến thức, tôi bảo gạt đuổi ra ngoài hết đừng nhớ, đừng tưởng, đó là ngu rồi chứ gì? Nhưng, qua cái ngu đó, chúng ta mới vĩnh viễn hết ngu. Còn nếu chúng ta cứ theo cái khôn vặt đó, thì chúng ta sẽ ngu suốt kiếp.
Vì vậy, nên ở đây tôi nói rằng:
- Khi tâm không trụ nơi các pháp, không nhiễm không trước, cũng như người có mắt mà thêm ánh sáng thấy rõ hết mọi vật không có nghi ngờ.
Do đó, nên ngài xác định:
- Thế thì đâu thể đồng môn đồ của định tánh, đã không có chỗ trụ trước thì đâu luận xứ sở? Ý này là đáp lại câu hỏi:"Nếu tâm an nhất định thì đâu khác gì môn đồ của định tánh (định tánh Thanh văn)?"
Chỗ này, tôi sẽ giải thích cho quý vị hiểu sự sai biệt giữa định của Thiền tông và định của Thinh văn. Các vị Thinh văn, khi tu tới Diệt tận định hay Diệt thọ tưởng định thì chứng quả A La Hán, trong kinh A Hàm có kể một câu chuyện:
Một hôm, có vị Tỳ kheo đi khất thực về, thọ thực xong, ngài vào rừng ngồi nhập định. Khi ấy có mấy người tiều phu đi ngang qua thấy ngài ngồi bất động, đến rờ lỗ mũi ngài, thấy không còn thở nữa. Họ cho là ngài đã chết, nên động lòng thương bèn đi kiếm củi dồn lại và đốt lửa lên thiêu, rồi họ tiếp tục đi kiếm củi. Hôm sau, họ gặp vị Tỳ kheo ấy đi khất thực, thấy y ngài mặc cháy khá nhiều chỉ còn cái viền là không cháy. Họ lấy làm lạ, hỏi ra mới biết lúc đó ngài đang nhập Diệt tận định. Nhập Diệt tận định thì không còn hơi thở, chỉ còn hơi ấm trong người. Lúc đó thân thể như đá, như cây, ai làm gì cũng không hay biết, chừng nào muốn xả thì xả. Nhập Diệt tận định có khi cả mấy chục năm hoặc mấy trăm năm.
Cũng trong kinh A Hàm, có câu chuyện:
Tối hôm nọ, ngài Xá Lợi Phất mới cạo tóc, ngài ngồi thiền trên tảng đá lớn, đối diện với ngài là Mục Kiền Liên. Khi ngài Xá Lợi Phất đang nhập định, ngài Mục Kiền Liên thấy một con quỷ ở xa đi lại, nó lấy tay đấm vô đầu ngài Xá Lợi Phất một cái. Ngài Mục Kiền Liên thấy như vậy mới kêu:
- Sư huynh, nãy giờ thấy trên đầu có sao không?
Ngài Xá Lợi Phất xả thiền đáp:
- Nghe trên đầu hơi ê ê.
Ngài Mục Kiền Liên nói:
- Cái sức đấm của con quỷ ấy rất nặng, nó đấm quả núi nầy cũng nát, mà sư huynh chỉ thấy trên đầu hơi ê ê, như vậy là sức định của sư huynh cao lắm.
Ðức Phật nghe câu chuyện này, Ngài cũng kể lại câu chuyện như sau:
Một hôm vào mùa hạ, ngài tọa thiền trong lều của những người làm ruộng, khi ấy có một cơn mưa giông rất lớn, sét đánh chết người và trâu. Ngài không hay gì hết, khi xả thiền thấy người ta xôn xao kéo trâu ra mổ. Ngài mới hỏi lý do. Họ trả lời:
- Lúc nãy mưa to, sét đánh chết người và trâu. Khi ấy Ngài ngồi ở đâu?
Ðức Phật trả lời:
- Như Lai ngồi trong lều cỏ nầy.
- Ngài ngủ hay thức?
- Như Lai không ngủ.
- Không ngủ sao Ngài không nghe?
Thì ra lúc đó Ngài đang nhập định.
Qua ba câu chuyện trên, cho chúng ta biết: khi nhập Diệt tận định là quên hết mọi chuyện bên ngoài. Nhưng ngược lại, Thiền tông chủ trương định trong bốn oai nghi đứng, đi, nằm, ngồi. Gặp việc thì nói, không có việc thì nín mà an nhiên tự tại, đó là đại định của Ðại thừa. Cho nên, các Bồ tát luôn luôn làm lợi ịch cho chúng sanh mà các ngài vẫn ở trong chánh định. Với người tu tập định này, khi ngồi thiền không cần không biết gì hết của Diệt tận định Thinh văn và chỉ cần không theo vọng tưởng, không theo vọng tưởng là Biết tất cả. Vọng tưởng dấy lên biết, vọng tưởng lặng xuống cũng biết, biết như thế từ từ vọng tưởng hết, vọng tưởng hết tâm nhất như. Rồi thì lúc đó đi nhổ cỏ, hái rau, bẻ củi, trong tất cả trường hợp làm gì cũng ở trong định cả. Người tu theo Thiền tông. ngồi thiền mà quên hết chuyện bên ngoài là bị ăn gậy. Như ở Nhật, người ngồi thiền mà đến giờ đánh kẻng xả thiền, tất cả mọi người đều xả, nếu có vị nào quên xả là bị giám thiền lôi ra đánh đòn. Tại sao vậy? Vì thiền của Ðại thừa là chủ trương sống trong thực tại, nếu quên thực tại chìm trong cái không tịch là bị ăn đòn. Lục Tổ ngày xưa, thấy chư Tăng ngồi thiền là ngài quở. Ngài bảo phải thiền trong mọi sinh hoạt hàng ngày. Ðó là chỗ sai biệt giữa định Tiểu thừa và định Ðại thừa.
- Khi tâm không trụ mà biết thì đâu thể đồng với định tánh Thinh văn, mà nếu không có chỗ trụ thì đâu luận xứ sở. Khi tâm chúng ta không trụ mà biết, tức là tâm yên lặng mà biết chứ không phải mê. Như vậy làm sao đồng với Thinh văn là quên hết tất cả? Biết nhưng không trụ trước, nên nói không có xứ sở. Như vậy, người tập tu theo định này không còn sợ ngồi thiền mà biết tất cả. Có một số thiền sinh tu trong thiền viện, khi ngồi thiền tâm lặng lẽ, cái gì xảy ra chung quanh cũng biết, rồi phát sợ rằng tu như vậy không tiến. Cái gì xảy ra chung quanh đều phải biết, biết mà không để tâm phân biệt, ấy mới là sống với cái hiện hữu. Quý vị phải hiểu kỹ sự sai biệt giữa định Thinh văn và định Ðại thừa để khỏi lầm lẫn trong khi tu.
11. HỎI: Người ngộ lý dứt vọng thì không kết nghiệp, sau khi mạng chung linh tánh sẽ nương vào đâu?
Câu này là cái nghi chung của đại đa số người. Có người hỏi chúng tôi:
- Người tu Tịnh độ, chết về Cực Lạc, quý thầy tu thiền chết về đâu?
Chúng ta nghe ngài Khuê Phong đáp:
ÐÁP: Tất cả chúng sanh đều có tánh giác linh minh không tịch, không khác với Phật, chỉ do từ vô thủy kiếp đến nay chưa từng liễu ngộ, vọng chấp thân là tướng của ta, cho nên sanh tình yêu ghét. Theo tình tạo nghiệp, theo nghiệp thọ báo sanh, già, bệnh, chết luân hồi nhiều kiếp. Nhưng, giác tánh trong thân chưa từng sanh tử. Như mộng thấy bị xua đuổi mà thân vẫn nằm yên trên giường. Vốn tự vô sanh thì đâu có chỗ nương gá.
Tánh giác là cái vô sanh mà hỏi chỗ nương gởi thì làm sao trả lời? Nó là:
- Tinh lanh không mờ mịt, rõ ràng thường biết, không từ đâu đến cũng không đi đâu.
Nếu chúng ta ngộ được chân tánh, thì không nói đi đâu và đến đâu, vì chân tánh trùm khắp, nói đi đâu là có chỗ nơi nhất định. Chúng ta tu là mong được Niết bàn vô sanh mà còn nghĩ đến có chỗ để sanh, thật là mâu thuẫn. Mâu thuẫn tại chỗ dốt của chúng ta, hễ tu là mong đời sau giàu sang để hưởng sung sướng. Tu mà không nói sanh về cõi nào thì buồn lắm. Chủ yếu của đạo Phật, tu là để dứt sanh tử, mà nếu còn mong có đời sau, có chỗ sanh, tức là còn tiếp nối dòng sanh tử. Người đặt câu hỏi này chứng tỏ họ chưa hiểu gì về thiền.
Lại có người thắc mắc:
- Người tu Tịnh độ, nếu chưa hết nghiệp thì đới nghiệp vãng sanh. Tức là mang nghiệp về Cực lạc tu tiếp. Còn người tu thiền, nghiệp chưa hết, khi chết phải làm sao?
Ðây, ngài trả lời:
- Song, vọng chấp nhiều đời huân tập thành tánh mừng, giận, vui, buồn, trôi chảy nhỏ nhiệm, tuy đã đốn ngộ chơn lý mà tình này không thể dứt liền, cần phải hằng xét nét dần dần tổn giảm. Như gió dừng thì sóng dần dần lặng. Ðâu thể tu hành một đời mà đồng lực dụng của chư Phật, chỉ nên lấy không tịch làm thể của mình, chớ nhận sắc thân này, lấy linh tri là thân của mình, đừng nhận vọng niệm, vọng niệm nếu khởi không nên theo nó, tức là khi sắp mạng chung tự nhiên nghiệp không thể ràng buộc. Tuy có thân trung ấm mà đi đâu tự do, tùy ý đến cõi người, cõi trời thọ sanh.
Vì vọng chấp nhiều đời huân tập thành tánh, nào là mừng, giận, thương, ghét, vui, buồn v.v... Không thể một đời dứt hết, cần phải xét nét để cái nghiệp chúng ta huân lâu đời dần dần tổn giảm. Và, chỉ nên nhận tánh không của tứ đại làm thể của mình, chớ đừng nhận sắc thân tứ đại này là của mình. Lấy cái linh tri làm tâm mình, chớ đừng nhận vọng niệm làm tâm mình. Hàng ngày chúng ta hằng sống với cái linh tri, vọng tưởng dấy lên không theo nó, thì khi sắp mạng chung, tự nhiên nghiệp không thể ràng buộc được. Như vậy, tuy chưa dứt nghiệp mà chúng ta vẫn tự do, tùy ý đến cõi trời, cõi người thọ sanh. Lúc ấy, chúng ta muốn về Cực Lạc cũng không ai ngăn cản.
Có người lại thắc mắc:
- Người niệm Phật, lúc sắp mạng chung họ có câu niệm Phật buộc tâm nên tâm không loạn. Còn chúng ta tu thiền khi thân thể khỏe mạnh, dùng trí Bát nhã quán chiếu thấy tánh không của tứ đại là thể của mình, và vọng niệm dấy lên không theo, thì có thể tu được. Nhưng khi hấp hối, sợ chết quá, luýnh quýnh, làm sao quán nổi?
- Chính vì vậy, nên Phật Tổ dạy hàng ngày người tu thiền phải dùng trí Bát nhã quán chiếu để thấy thân tứ đại này là giả. Hằng quán như vậy, thì chết đến chúng ta vẫn tỉnh táo, mạnh dạn đón tiếp cái chết một cách bình thản, chớ không sợ hãi khủng khiếp như người không tu. Cho nên các thiền sư khi chết, ngồi an nhiên mà tịch, không phải co tay, giật chân, miệng méo như người thường. Chúng ta thấy cũng đồng thời đau, như đau bụng chẳng hạn, với người trí huệ kém, nuông chiều thân này, khi đau nhào lộn khóc lóc, kêu người này réo người nọ. Người trí huệ mạnh, coi thường cái thân, khi đau họ gan dạ chịu đựng, nên họ không rên la. Ðó là trí huệ mạnh, làm chủ được thân nên tâm tịnh, còn trí huệ yếu tình cảm nhiều, không làm chủ được thân nên tâm loạn. Vì vậy, tôi thường nhắc quý vị hàng ngày phải dùng trí Bát nhã chiếu soi luôn, để thấy thân này là tạm bợ, sự mất còn của nó như trò chơi, chẳng có gì quan trọng, thì không lo sau khi mạng chung không biết chỗ đi. Chừng đó tùy ý, chỗ nào đủ duyên thì đến làm lợi ích cho chúng sanh. Còn nếu bình thường nuông chiều thân này quá, đau chút ít không chịu nổi, khổ một chút thì kêu than. Tâm không buông xả vọng tình, còn đầy ấp buồn, vui, thương, ghét... thì chắc chắn khi mạng chung tâm sẽ loạn, và theo nghiệp thọ sanh, nặng đâu sa đó.
- Nếu niệm yêu ghét đã hết, tức không thọ nhận thân phần đoạn (thân còn ăn uống thô) tự hay đổi dở thành hay, đổi thô thành diệu.
Trường hợp này, nếu niệm yêu ghét hết tức là tình chấp hết, thì không còn thọ thân thô tháo ăn uống như chúng ta nữa. Khi bỏ thân này rồi, muốn thân nào cũng được, từ cái thân thô biến thành thân đẹp, chừng đó tùy ý đến các cõi lành để tu tiến thêm.
- Nếu phần trôi chảy nhỏ nhiệm lắng sạch tất cả, chỉ riêng còn Viên giác Ðại trí sáng suốt, tùy cơ ứng hiện trăm ngàn ức thân độ chúng sanh hữu duyên, gọi đó là Phật.
Nếu người trong tâm không còn một niệm vi tế nào hết chỉ còn tánh Viên giác Ðại trí sáng suốt tức là chứng được pháp thân. Lúc ấy, tùy duyên ứng hiện trăm ngàn hóa thân để độ chúng sanh, gọi đó là Phật.
Ngài đã giải rõ như vậy, chúng ta tùy sức mà tu hành, đừng thắc mắc lo sợ. Nếu tu viên mãn thì thành Phật, nếu chưa viên mãn thì thành Bồ tát hạnh, vì nguyện lực mà ra đời độ sanah, còn thấp hơn nữa thì cố gắng hàng ngày thường tỉnh giác, để lúc chết tỉnh táo thì chẳng bị nghiệp lôi, đi đâu tùy ý. Chúng ta cũng đừng sợ cõi Ta Bà này, cho là ô nhiễm mà phải lựa cõi khác để tái sanh, ô nhiễm hay thanh tịnh gốc cũng tại tâm, chuyển được nghiệp thì ô nhiễm biến thành thanh tịnh, ngài có làm tám câu kệ diễn bày ý này:
Tác hữu nghĩa sự,
Thị tỉnh ngộ tâm.
Tác vô nghĩa sự,
Thị cuồng loạn tâm.
Cuồng loạn tùy tình niệm,
Lâm chung bị nghiệp khiên.
Tỉnh ngộ bất do tình,
Lâm chung năng chuyển nghiệp.
Dịch:
Làm việc có nghĩa,
Là tâm tỉnh ngộ.
Làm việc vô nghĩa,
Là tâm cuồng loạn.
Cuồng loạn theo tình niệm,
Lâm chung bị nghiệp lôi.
Tỉnh ngộ không theo tình,
Lâm chung hay chuyển nghiệp.
Qua tám câu kệ này, chúng ta thấy ai giải thoát, ai trầm luân rõ ràng:
Tác hữu nghĩa sự,
Thị tỉnh ngộ tâm.
Tác vô nghĩa sự,
Thị cuồng loạn tâm.
Chữ nghĩa này không phải là chữ nghĩa theo thế gian. Ở thế gian, người có nghĩa là người biết phải quấy, biết ăn ở hiếu nghĩa với cha mẹ, anh em quyến thuộc, biết thương yêu người nghèo khổ láng giềng v.v... Chữ nghĩa ngài Khuê Phong dùng trong bài kệ này ý khác. Làm việc có nghĩa là làm việc phù hợp với lý chân thật, mà làm việc phù hợp với lý chân thật thì tâm tỉnh ngộ. Vậy, thế nào là làm việc phù hợp với lý chân thật? Như người tu tại gia thọ tam quy, ngũ giới, hoặc bát quan trai giới thì phải giữ đúng theo đó mà tu; còn người xuất gia giữ đúng giới luật của người xuất gia mà tu. Người tu theo Thinh văn thì giữ đúng theo tinh thần của Tứ đế, hằng quán lý vô thường, khổ, không,vô ngã; người tu theo Bồ tát hạnh thì tu hạnh Lục độ Ba la mật... Như vậy, hợp với lý chân thật thì tâm tỉnh ngộ, còn nếu ngược lại, làm việc vô nghĩa thì tâm cuồng loạn. Mà tâm cuồng loạn thì:
Cuồng loạn tùy tình niệm,
Lâm chung bị nghiệp khiên.
Nếu tâm cuồng loạn thì chết bị nghiệp lôi, mà bị nghiệp lôi là còn luân hồi. Nếu:
Tỉnh ngộ bất do tình,
Lâm chung năng chuyển nghiệp.
Tức là tỉnh ngộ không theo tình niệm, thì khi lâm chung chuyển được nghiệp, chuyển được nghiệp thì giải thoát, rõ ràng như vậy không sai. Nhưng không theo tình niệm là sao? Mục đích ngồi thiền là để tỉnh ngộ, tức là tập sống với cái chân thật của mình. Ngồi thiền nếu trọn giờ không theo vọng niệm là trọn giờ tỉnh giác và giải thoát. Biết như vậy, chúng ta cố gắng làm chủ đừng chạy theo tình niệm, uổng một đời tu! Ban đầu tập làm chủ trong giờ tọa thiền, sau tập làm chủ trong mọi oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm và trong lúc làm việc. Quen dần chúng ta làm chủ mình trong hai mươi bốn giờ trong một ngày, rồi suốt tuần, suốt tháng, suốt năm. Làm chủ được tâm không chạy theo tình niệm, thì chắc chắn chuyển được nghiệp, sau khi chết không bị nghiệp lôi. Và tùy ý, thấy chỗ nào có duyên thì ứng thân đến đó để giáo hóa, cha mẹ, quyến thuộc, thí chủ ở nơi nào cũng hóa độ được. Biết rõ như vậy, khi tu chúng ta mới an lòng. Bằng không biết giá trị của sự tu hành, khi đang tu bị chê là tiêu cực, ích kỷ thì lúng túng, muốn ra làm Phật sự. Nhưng khi ra làm việc, mà còn đầy ắp tình niệm thì vẫn còn luân hồi, vì nhơn luân hồi là tình niệm thì quả cũng là luân hồi.
]
TỰA
Quyển Thiền Nguyên Chư Thuyên Ðô Tập Tự của thiền sư Khuê Phong thật là một quyển sách chưa từng có!
Như Lai ra đời tùy cơ lập giáo, Bồ tát giáng sanh theo bịnh chỉ thuốc; cho nên giáo lý trong một đời ngài mở bày ba môn có sâu, cạn, chỉ một tâm chơn tịnh mà diễn nói pháp tánh, tướng có khác. Hai vị Bồ tát Mã Minh, Long Thọ đều hoằng truyền giáo lý của đức Ðiều ngự mà chia ra Không tông, Tánh tông khác nhau. Hai vị Tổ Huệ Năng, Thần Tú đều truyền tâm của Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma mà chỗ bẩm thọ có đốn, tiệm sai biệt. Ngài Thần Hội thì chỉ thẳng cái tri kiến. Mã Tổ thì nói tất cả đều chơn. Ngài Pháp Dung thì nói không có một pháp. Những vị ấy, hoặc không, hữu cùng phá, hoặc chơn vọng đều thâu, hoặc ngược để mà đoạt, hoặc thuận để mà nhận, hoặc chỉ kín, hoặc nói trắng.
Vì thế, thời xưa ở Ấn Ðộ chia tông phái thật nhiều, bởi bịnh có ngàn chứng thì thuốc cũng sanh nhiều phương, hợp cơ tùy bịnh đâu có thể đồng nhất. Tuy đều vì cửa chứng ngộ chính ở chỗ đạo chánh chơn, mà đệ tử các môn phái, người thông thì ít, người chấp thì nhiều nên vài mươi năm nay Phật pháp suy hoại. Bởi họ lấy chỗ bẩm thừa làm hộ dũ cho mỗi người tự mở. Lấy kinh luận làm can qua để công kích lẫn nhau, tình theo đãy tên mà dời đổi, pháp theo nhơn ngã làm thấp cao, phải quấy lăng xăng đâu thể dẹp trừ, đều lấy Phật, Bồ tát, kinh điển chư tông môn làm chỗ đứng để tranh cải, càng làm thêm bệnh phiền não cho người sau, đâu có lợi ích gì.
Ðại sư Khuê Phong hằng lâu than rằng:
- Tôi sanh trong thời này không thể làm thinh được.
Do đó, ngài lấy ba thứ giáo nghĩa của Như Lai, ấn định ba thứ pháp môn của Thiền tông, như làm tiêu dung bình, bàng, xoa, xuyến thành một chất vàng, khuấy tô lạc, đề hồ làm một vị, nắm cương lãnh đưa lên thì toàn thể đều theo, căn cứ chỗ hội yếu mà đề ra thì tất cả đồng hướng. Nhưng còn ngại học giả khó hiểu, lại chỉ thẳng gốc ngọn của tông nguyên, sự hòa hợp của chơn vọng, chỗ ẩn hiện của Không tông và Tánh tông, chỗ sai biệt của pháp nghĩa, sự dị đồng của đốn tiệm, chỗ gặp nhau của nói ngăn chắp (giá thuyên), chỗ sâu cạn của quyền và thật, chỗ phải quấy của kẻ thông người chấp.
Thật là, ngài kề tai mà nói với họ, chỉ cho họ thấy rõ vật trong lòng bàn tay, nhăn mày than thở với họ, dùng lời hòa dịu dạy bảo họ, dùng vú sữa mà nuôi nấng họ. Lo cho người không còn chút căn lành đối với Phật chủng. Ngài ôm ấp ủng hộ họ; nhớ đến kẻ bị lửa thiêu nước trôi (Ái dục là nước lửa). Ngài nắm họ dẫn đi; sợ cho người mê lầm theo tà giáo, Tiểu thừa, ngài lay họ khiến tỉnh.
Vì thương, sự đấu tranh kiên cố sợ e cái sáng lớn không thể phá được cái tối của đêm dài, mẹ hiền không thể bảo bọc được con dại sau khi chết. Nên thầy tôi (Khuê Phong) nâng Phật nhật xoay lại chiếu sáng, mây mù nghi ngờ đều hết, thuận tâm Phật mà phát lòng đại bi suốt khắp, cùng kiếp đều được lợi ích. Ðức Thế Tôn là chủ mở bày giáo pháp, thầy tôi là người quy hội giáo pháp, xưa và nay phù hợp nhau, xa và gần cùng soi nhau. Có thể gọi, làm xong sự hội thông giáo pháp trong một thời vậy.
Hoặc có người hỏi:
- Từ đức Như Lai chưa từng tóm gọn mà thông suốt, hôm nay rời tông thú không giữ, bỏ chỗ quan ngại không y cứ, đâu không trái với đại bí tạng mật khế sao?
Ðáp:
- Phật ở trong hội Pháp Hoa, Niết Bàn cũng đã dung thông làm một vị, chỉ có kẻ mê mới không biết. Kinh Niết Bàn, Bồ Tát Ca Diếp thưa:
- Chư Phật có mật ngữ mà không có một tạng.
Thế Tôn khen rằng:
- Lời nói của Như Lai mở bày rõ ràng trong sáng không có mờ mịt, người ngu không thể hiểu cho là bí tạng (che kín), người trí hiểu thấu thì không gọi là tạng.
Lời đây đã chứng minh vậy.
Cho nên, vương đạo hưng thịnh thì cửa ngoài không đóng mà giặc rợ tự sợ. Phật đạo đầy đủ thì các pháp đều tổng trì mà ma ngoại tự khiếp; không nên lại sanh tình chấp bám chặt trong ấy.
Than ôi! Kẻ hậu học nên thủ tín nơi Phật, không nên thủ tín nơi người, nên thủ chứng nơi pháp gốc, không nên thủ chứng nơi tập ngọn. Nếu được như vậy, mới là không cô phụ đức cù lao của ngài Khuê Phong.
Ðời Ðường
Thích Sử Miên Châu BÙI HƯU
]
GIẢNG
Tướng quốc Bùi Hưu là đệ tử tại gia của ngài Hoàng Bá, ngài vừa mộ thiền mà cũng thích nghiên cứu kinh điển. Ðược Tổ Hoàng Bá chỉ dạy, ông có viết quyển Thiền Tông Pháp Yếu. Ở đây vì nể tài đức của ngài Khuê Phong, nên ông mới viết bài tựa quyển Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Ðô Tự. Trước hết là ông khen ngợi:
- Quyển Thiền Nguyên Chư Thuyên Ðô Tập Tự của thiền sư Khuê Phong thật là một quyển sách chưa từng có!
Như Lai ra đời tùy cơ lập giáo, Bồ tát giáng sanh theo bịnh chỉ thuốc; cho nên giáo lý trong một đời ngài mở bày ba môn có sâu, cạn, chỉ một tâm chơn tịnh mà diễn nói pháp tánh, tướng có khác.
Mở đầu ông nói, sở dĩ chư Phật và Bồ tát ra đời đều tùy bịnh của chúng sanh mà cho thuốc. Chúng sanh có bao nhiêu bịnh, các ngài chế bấy nhiêu thuốc. Vì vậy, Bồ tát lập giáo rất nhiều, đức Phật thì mở bày ba môn có sau, cạn mà gốc đều chỉ bày một tâm chơn tịnh. Trong kinh Pháp Hoa có đoạn nói:
- Chư Phật ra đời chỉ vì một đại sự nhận duyên, là khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật.
Phật tri kiến là cái tâm chơn tịnh ở đây nói vậy. Bởi vì chúng sanh căn cơ có sai biệt, nên muốn chỉ cái tâm chơn tịnh ấy, đức Phật phải tùy theo sự sai biệt đó mà diễn ra, nào là pháp tánh, pháp tướng có khác nhau.
- Hai vị Bồ tát Mã Minh, Long Thọ đều hoằng truyền giáo lý của đức Ðiều ngự mà chia ra Không tông, Tánh tông khác nhau.
Ngài dẫn chứng các vị Bồ tát truyền giáo ở Ấn Ðộ.
- Hai vị Tổ Huệ Năng, Thần Tú đều truyền tâm của Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma mà chỗ bẩm thọ có đốn, tiệm sai biệt.
Ðây là dẫn chứng các vị Tổ ở Trung Hoa: Tổ Huệ Năng và Thần Tú đều nối truyền tông chỉ của ngài Bồ Ðề Ðạt Ma, mà lại chia ra đốn và tiệm.
- Ngài Thần Hội thì chỉ thẳng cái tri kiến. Mã Tổ thì nói tất cả đều chơn. Ngài Pháp Dung thì nói không có một pháp.
Ngài Thần Hội là đệ tử của Lục Tổ, ngài chỉ thẳng nơi chúng ta có cái tánh biết, không sanh không diệt. Còn Mã Tổ thì nói: "Tất cả đều chơn" (phần này ở đọa sau sẽ giảng kỹ). Ngài Pháp Dung đệ tử của Tứ tổ Ðạo Tín thì nói: "Không có một pháp".
- Những vị ấy, hoặc không, hữu cùng phá, hoặc chơn vọng đều thâu, hoặc ngược để mà đoạt, hoặc thuận để mà nhận, hoặc chỉ kín, hoặc nói trắng.
Các vị ấy, hoặc không hữu đều phá hết, hoặc chon vọng đều thâu hết. Ðó là tùy theo căn cơ, trường hợp các ngài nói ra để dẫn dắt người sau.
- Vì thế, thời xưa ở Ấn Ðộ chia tông phái thật nhiều, bởi bịnh có ngàn chứng thì thuốc cũng sanh nhiều phương, hợp cơ tùy bịnh đâu có thể đồng nhất. Tuy đều vì cửa chứng ngộ chính ở chỗ đạo chánh chơn, mà đệ tử các môn phái, người thông thì ít, người chấp thì nhiều nên vài mươi năm nay Phật pháp suy hoại.
Ngày xưa, sau khi Phật nhập Niết bàn, ở Ấn Ðộ đạo Phật chia ra rất nhiều tông phái. Việc chia nhiều tông phái này, chúng ta thấy có lợi mà cũng có hại.
Ðứng về phương diện tùy cơ, tức là tùy bịnh cho thuốc thì có lợi. Vì bịnh nhiều, nếu chỉ có một thứ thuốc thì làm sao trị hết? Cho nên bịnh nhiều thì phải chế ra nhiều thứ thuốc, vì thế nói: "Chúng sanh đa bịnh, Phật pháp đa môn" là vậy.
Ðứng về phương diện cứu cánh thì có hại, vì kinh điển đức Phật nói mênh mông, nhưng bản hoài chỉ mong cho chúng sanh ngộ được bản tánh chân thật mà chư Tổ phương tiện chia ra nhiều tông phái. Rồi vì chấp trước nên người sau ở tông này cho giáo nghĩa lập tông của mình là đúng, cho tông khác là sai, chống chọi lẫn nhau. Ví dụ như ở đây tu thiền, ở Ðại Ninh tu Tịnh độ, nhưng người thông thì ít, kẻ chấp thì nhiều, nên gặp nhau là kích bác.
- Tôi tu Tịnh độ chết về Cực Lạc, không bị luân hồi, còn mấy ông tu Thiền thì còn sanh tử...
Mấy người tu Thiền cãi lại:
- Tôi tu Thiền trực chỉ nhơn tâm, kiến tánh thành Phật, mấy ông tu Tịnh độ còn phương tiện...
Hai bên tranh cãi làm cho Phật tử nghi ngờ và mất lòng tin, không biết tu pháp nào đúng, pháp nào sai, đó là cái tai hại. Như vậy, lợi hay hại là do người sau chấp hay không chấp mà thôi. Nhưng người sau phần nhiều chấp trước, nên Bùi Hưu mới than:
- Bởi họ lấy chỗ bẩm thừa làm hộ dũ cho mỗi người tự mở. Lấy kinh luận làm can qua để công kích lẫn nhau, tình theo đãy tên mà dời đổi, pháp theo nhơn ngã làm thấp cao, phải quấy lăng xăng đâu thể dẹp trừ, đều lấy Phật, Bồ tát, kinh điển chư tông môn làm chỗ đứng để tranh cải, càng làm thêm bệnh phiền não cho người sau, đâu có lợi ích gì.
Bùi Hưu diễn tả tình trạng của các tông phái công kích nhau. Mỗi người mỗi tông phái, lấy cái học được của mình để mà nhìn. Cũng như người đứng bên cửa Ðông nhìn ra thấy phương trời Ðông đẹp lắm, người đứng bên cửa Tây nhìn ra cũng thấy phương trời Tây đẹp lắm.
Mạnh ai nấy khen phương trời của mình, chê phương trời của người khác. Nhưng có người đứng trên chót cót nhìn xuống thì thấy đông hay tây gì cũng vậy thôi. Cũng thế, do cái bịnh khen mình chê người, lấy kinh luận làm khí giới để rồi công kích lẫn nhau.
"Tình theo đãy tên mà dời đổi", Bùi Hưu muốn dẫn câu nói của thầy Mạnh Tử: "Thỉ nhơn khởi bất nhơn ư hàm nhơn tai". Ý nói rằng: người cầm tên đâu không theo người mang đãy tên ư! Nguời mang đãy tên đi đâu thì người cầm tên phải theo đó.
Cũng vậy, pháp theo ngã nhơn mà có thấp cao, chớ pháp nào có cao thấp. Tranh cãi cao thấp hơn thua, càng khiến cho người sau thêm phiền não, chớ không lợi ích.
- Ðại sư Khuê Phong hằng lâu than rằng: "Tôi sanh trong thời này không thể làm thinh được". Do đó, ngài lấy ba thứ giáo nghĩa của Như Lai, ấn định ba thứ pháp môn của Thiền tông, như làm tiêu dung bình, bàng, xoa, xuyến thành một chất vàng, khuấy tô lạc, đề hồ làm một vị, nắm cương lãnh đưa lên thì toàn thể đều theo, căn cứ chỗ hội yếu mà đề ra thì tất cả đồng hướng.
Vì thấy người sau cứ tranh chấp và công kích lẫn nhau, ngài Khuê Phong không nỡ làm thinh, nên ngài mới căn cứ vào Tam tạng giáo điển của Phật chia ra làm ba thứ ( sau này sẽ nói rõ). Ðối với thiền tông thì ngài ấn định lại ba thứ pháp môn, kết thành một khối để khỏi chống chọi nhau, Cũng như tiêu dung bình, bàng v.v... thành một chất vàng và khuấy tô lạc, đề hồ làm một vị. Cho nên tìm được chỗ cương yếu của Phật pháp rồi đề ra thì tất cả đều hướng theo đó tu hành chớ không có ngăn ngại gì.
- Nhưng còn ngại học giả khó hiểu, lại chỉ thẳng gốc ngọn của tông nguyên, sự hòa hợp của chơn vọng, chỗ ẩn hiện của Không tông và Tánh tông, chỗ sai biệt của pháp nghĩa, sự dị đồng của đốn tiệm, chỗ gặp nhau của nói ngăn chắp (giá thuyên), chỗ sâu cạn của quyền và thật, chỗ phải quấy của kẻ thông người chấp.
Ðoạn này tôi chỉ giải thích lối nói ngăn chấp, lối nói hiển bày và chữ "Quyền, Thật", còn lại bao nhiêu thì sau sẽ giảng kỹ. Trong kinh Phật, hệ thống Bát nhã là hệ thống ngăn chấp, còn hệ thống Pháp Hoa là hệ thống nói hiển bày. Nói ngăn chấp là sao? Kinh Bát nhã nói thân tâm, cảnh giới đều không thật, tự tánh không, duyên khởi nhưhuyễn, cho đến ba mươi bảy phẩm trợ đạo cũng không thật. Và trong Ðại Bát nhã cũng nói:
- Giả sử có một pháp trên Niết bàn, ta cũng nói là không thật. Một pháp trên Niết bàn mà không thật, vậy Niết bàn có thật không? - Không - Hệ Bát nhã là hệ thống giáo lý phá đối đải; còn thấy bên này là sanh tử, bên kia là Niết bàn là còn thấy hai. Thấy có Niết bàn là vui thì sanh ưa thích, thấy sanh tử khổ thì sanh nhàm chán; còn ưa còn chán là còn tình chấp, còn tình chấp là còn luân hồi, nên phá hết cả hai. Khi biết sanh tử, Niết bàn đều không thật thì không còn tình chấp ưa chán, và tâm như như tự tại, như vậy là nói ngăn chấp. Còn nói hiển bày là nói thẳng, chỉ rõ ràng. Như kinh Niết bàn nói :"Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh", hay nói: "Tu rồi sẽ chứng được Niết bàn thường, lạc, ngã, tịnh v.v..."
Nghĩa chữ "Quyền" và"Thật". Ví dụ khi giảng kinh đến đoạn Phật muốn chỉ cái chơn tâm quý vị nghe không hiểu, tôi phải dùng ví dụ, qua ví dụ đó quý vị mới hiểu là mình có chơn tâm, ví dụ đó là quyền, thấy được lẽ thật là thật. Khi dùng ví dụ, chúng ta đừng đòi hỏi đúng một trăm phần trăm, có những ví dụ hơi na ná thôi. Nếu qua những ví dụ đó mà chấp lời nào cũng là chân lý hết thì trật, không hiểu ý người giảng muốn nói gì. Như đức Phật, khi khuyên người ta có hiếu với cha mẹ, ngài mới kể câu chuyện:
- Có một đời, ta hành Bồ tát hạnh, làm con chim Anh Võ, khi đó mẹ ta bịnh nằm trong tổ, ta phải đi tha mồi về nuôi mẹ, rồi có người đánh lưới bắt được ta, ta cất tiếng van xin họ v.v...
Nghe thế, chúng ta đâm ra nghi ngờ: sao Phật nói nghe hoang đường mê tín quá vậy! Như vậy là quý vị đã mắc kẹt cho "Quyền" là "Thật". Chủ yếu của đức Phật là muốn dạy con người phải hiếu thảo với cha mẹ, ngài mới đưa ra một câu chuyện để dạy chúng ta phải ăn ở hiếu thảo với cha mẹ, đó là dùng quyền để nói lên cái thật. Chúng ta phải biết đoạn kinh nào thuộc về quyền và đừng chấp nơi quyền mà phải tìm ra lẽ thật. Ðó là người biết nghe kinh và biết học kinh.
- Thật là, ngài kề tai mà nói với họ, chỉ cho họ thấy rõ vật trong lòng bàn tay, nhăn mày than thở với họ, dùng lời hòa dịu dạy bảo họ, dùng vú sữa mà nuôi nấng họ. Lo cho người không còn chút căn lành đối với Phật chủng. Ngài ôm ấp ủng hộ họ; nhớ đến kẻ bị lửa thiêu nước trôi (Ái dục là nước lửa). Ngài nắm họ dẫn đi; sợ cho người mê lầm theo tà giáo, Tiểu thừa, ngài lay họ khiến tỉnh.
Ðây là Bùi Hưu khen ngài Khuê Phong, ý ông nói chủ đích của ngài Khuê Phong làm ra bộ Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập là muốn cho mọi người đều được hòa nhau, cùng biết rõ ý chỉ của Phật dạy và giúp cho những người còn mê lầm, khiến chọ họ thấy được đường lối tu, khỏi rơi vào tà giáo ngoại đạo.
- Vì thương, sự đấu tranh kiên cố sợ e cái sáng lớn không thể phá được cái tối của đêm dài, mẹ hiền không thể bảo bọc được con dại sau khi chết.
Mấy câu này thật là thống thiết. Ánh sáng lớn chỉ cho ánh sáng Phật pháp, cái tối đêm dài chỉ cho cái vô minh ngàn đời của chúng sanh, Khi Phật còn tại thế, ngài nói pháp người nghe giác ngộ liền. Tới thời ngài Khuê Phong cách Phật một ngàn năm, con người căn cơ ngày càng thấp kém, tình chấp càng nhiều. Ngài sợ ánh sáng lớn Phật pháp không xuyên thủng được màn vô minh dày đặc của chúng sanh. Chúng sanh mê muội, ngài ví như đứa con khờ dại, mẹ hiền dù có thương con, nhưng làm sao bảo bọc được nó sau khi mình chết. Cũng vậy, khi Phật còn tại thế thì ngài nói pháp, dạy chúng sanh giác ngộ, khi Phật nhập Niết bàn, dù thương chúng sanh cũng không giáo hóa cho chúng sanh giác ngộ được nữa.
- Nên thầy tôi (Khuê Phong) nâng Phật nhật xoay lại chiếu sáng, mây mù nghi ngờ đều hết, thuận tâm Phật mà phát lòng đại bi suốt khắp, cùng kiếp đều được lợi ích.
Phật nhập Niết bàn đã hơn một ngàn năm, nên mặt trời trí huệ bị lu mờ, lúc bấy giờ Ngài Khuê Phong làm ra bộ Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập là chủ đích muốn nâng mặt trời trí huệ đua lên cao chiếu sáng để cho mây mù nghi ngờ đều tan hết. Ngài tùy theo chủ yếu Phật dạy bảo mà khởi lòng đại bi làm lợi ích cho người sau.
- Ðức Thế Tôn là chủ mở bày giáo pháp, thầy tôi là người quy hội giáo pháp, xưa và nay phù hợp nhau, xa và gần cùng soi nhau. Có thể gọi, làm xong sự hội thông giáo pháp trong một thời vậy.
Ðức Phật là chủ mở bày giáo pháp, nhưng kinh điển nói rộng quá người sau không biết làm sao nắm được cái gốc để tu. Nên vì lòng đại bi muốn làm lợi ích cho chúng sanh, ngài quy hội giáo pháp để cho người sau thấy. Tuy Phật chia ra nhiều môn, nhưng cứu cánh chỉ trở về có một mối. Tuy đức Phật là xưa, ngài Khuê Phong là nay, nhưng đã phù hợp nhau, cùng soi nhau, do đó ngài Khuê Phong đã làm xong sự hội thông giáo pháp của Phật trong một thời.
- Hoặc có người hỏi: "Từ đức Như Lai chưa từng tóm gọn mà thông suốt, hôm nay rời tông thú không giữ, bỏ chỗ quan ngại không y cứ, đâu không trái với đại bí tạng mật khế sao?"
Từ xưa, đức Phật chưa bao giờ rút gọn giáo lý, ngài nói rộng là để người sau dễ thông suốt. Bây giờ, ngài Khuê Phong bỏ tông thú không giữ, như vậy trái với bí tạng mật khế sao? Tông thú tức là chỗ nhắm riêng của một tông, như Tịnh độ tông có chỗ nhắm riêng, Thiền tông cũng có chỗ nhắm riêng, Mật tông cũng vậy v.v... Ngài gom chung lại bỏ chỗ nhắm riêng của mỗi tông đâu không trái với Bí tạng mật khế? Bí tạng là che kín, mật khế là thầm khế hội, chỗ đó thì che kín, chỉ người nào khéo lắm mới thầm khế hội nên gọi là Bí tạng mật khế, và được ngài đáp:
- Ðáp: "Phật ở trong hội Pháp Hoa, Niết Bàn cũng đã dung thông làm một vị, chỉ có kẻ mê mới không biết.
Theo kinh Pháp Hoa, ban đầu đức Phật nói Tiểu thừa, Trung thừa, Ðại thừa, nhưng sau Phật dung hội bằng cách nói chỉ có một Phật thừa, không hai không ba. Tam thừa chỉ là Hóa thành, Phật thừa mới là Bảo sở. Trong phẩm Thí Dụ, ông trưởng giả sau khi dụ đưa những đứa con ra khỏi nhà lửa, rồi chỉ cho một thứ xe, xe trâu trắng mập mạp (dụ cho Phật thừa) mà thôi.
- Kinh Niết Bàn, Bồ Tát Ca Diếp thưa: "Chư Phật có mật ngữ mà không có một tạng". Thế Tôn khen rằng: "Lời nói của Như Lai mở bày rõ ràng trong sáng không có mờ mịt, người ngu không thể hiểu cho là bí tạng (che kín), người trí hiểu thấu thì không gọi là tạng". Lời đây đã chứng minh vậy.
Có mật ngữ mà không có mật tạng là sao? Có mật ngữ là lời nói bí mật, không có mật tạng là không có sự che dấu. Như có một người đến hỏi một vị thiền sư:
- Thế nào là đạo?
Ngài ngồi im lìm. Ngài hỏi:
- Ông hiểu không?
Người ấy trả lời:
- Dạ, không hiểu.
Ngài nói:
- Nếu ông không hiểu thì Như Lai có mật ngữ, còn nếu ông hiểu thì Như Lai không có mật tạng.
Ý nói rằng: Chư Phật có lời nói bí mật, mà không có sự che dấu. Tại sao vậy? Lời nói mà người nghe không hiểu nên cho là mật ngữ, nếu người hiểu rồi thì không còn bí mật nữa, nên nói Phật không có mật tạng, tức là không có che dấu vậy. Nên đức Phật mới nói: "Lời ta nói rõ ràng không có mờ mịt, tại người ngu không hiểu cho là bí tạng, người trí nghe hiểu thấu thì không còn là tạng nữa".
- Cho nên, vương đạo hưng thịnh thì cửa ngoài không đóng mà giặc rợ tự sợ. Phật đạo đầy đủ thì các pháp đều tổng trì mà ma ngoại tự khiếp; không nên lại sanh tình chấp bám chặt trong ấy.
Trong nước, đức độ của một vị vua rộng lớn, thì ngoài biên cương không cần giữ gìn, mà giặc bên ngoài cũng tự khiếp sợ không dán bén mảng. Phật đạo cũng vậy, khi Phật đạo hưng thịnh, mọi người biết rõ manh mối cội nguồn để chung nhau gìn giữ tu hành thì ngoại đạo ma vương thảy đều khiếp sợ.
- Than ôi! Kẻ hậu học nên thủ tín nơi Phật, không nên thủ tín nơi người, nên thủ chứng nơi pháp gốc, không nên thủ chứng nơi tập ngọn. Nếu được như vậy, mới là không cô phụ đức cù lao của ngài Khuê Phong.
Bùi Hưu nhắn nhủ rất là thâm thiết, ngài căn dặn chúng ta học Phật phải tin nơi Phật, không tin nơi người, hãy giữ pháp gốc không nên theo ngọn ngành. Bây giờ người học Phật hay có cái bịnh tin nơi người hơn tin nơi Phật và tu theo ngọn ngành hơn là giữ nơi pháp gốc. Ví dụ như có người mang hình thức người tu, trong chùa cũng thờ Phật Tổ, nhưng dạy tín đồ tu không dính dáng tới kinh Phật dạy. Như lối tu thiền chuyển luân xa hay xuất hồn ngao du đó đây. Chúng ta nghiên cứu kinh điển xem thử, Phật Tổ có dạy tu như vậy không? Thế mà tín đồ Phật giáo nghe nói cũng tin và cho là mình tu theo Phật, thật là oan cho Phật biết bao nhiêu. Cho nên người học Phật, trước phải nghiên cứu giáo lý cho kỹ, để người hướng dẫn mình tu dạy đúng hay sai kinh Phật, chúng ta cũng biết. Nếu không dính dáng gì tới kinh điển Phật Tổ nói, thì nhất định không tin, chớ không phải bạ đâu tin đó, có hại cho sự tu hành. Một phen lạc vào tà đạo thì khó gỡ ra. Bây giờ đa số người tu, ham tu theo ngọn ngành, chẳng hạn như ham làm phước, cất chùa, tổ chức hội họp cúng kiến linh đình, ít ai chịu ngồi lại thanh lọc thân tâm. Ðã vậy, nghe nói tới tu thiền, thì nói: "Coi chừng tu thiền điên à!". Như vậy, chúng ta thấy có thủ chứng nơi pháp gốc không? Thưa quý vị, ngày xưa đức Phật Thích Ca, người sáng lập ra đạo Phật, tu pháp gì mà thành Phật? Có phải ngài ngồi thiền bốn mươi chín ngày dưới cội Bồ đề không? Lịch sử còn ghi lại và cả thế giới đều ghi nhận điều đó. Kế tiếp đến là Tổ Ca Diếp, A Nan đệ tử lớn của Phật và chư Tổ sau này, cũng đều tu thiền, chớ có tu pháp nào khác đâu? Tam tạng kinh điển kể cả tạng Pàli và Hán văn, Phật đều dạy tu thiền, vậy mà dám nói tu thiền là điên, có phải người đó điên đảo không? Thế mà Phật tử, kể cả một ít Tăng Ni nghe nói thế cũng đâm hoảng, không dám tu thiền. Lại còn một số người bảo nhau: "Coi chừng tu thiền, mười người lạc hết chín rồi đó". Ðó là bịnh của đa số người tu bây giờ. Tu mà không chịu học hỏi giáo lý kinh điển để rồi tu mù, ai nói trúng trật gì cũng tin, không chịu tìm nguồn gốc, không chịu đối chiếu lời Phật dạy trong kinh mà y cứ tu hành. Do đó, sanh ra nhiều chứng bịnh, thường gọi là "Bịnh thời đại". Tôi khuyên quý vị nên cẩn thận, đừng quá tin vào lời nói của người sau mà quên mất cái gốc của sự tu hành. Ðó là không cô phụ đức cù lao của ngài Khuê Phong.
]
THIỀN NGUYÊN CHƯ THUYÊN TẬP ÐÔ TỰ
Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập là biên tập lời của các Thiền gia nói về đạo lý nguồn cội của thiền môn, những câu văn, bài kệ góp thành một bộ (một trăm quyển) để lưu lại đời sau, cho nên tóm đề tên này.
Thiền là tiếng Ấn Ðộ, nói đủ chữ thì gọi là Thiền Na (Dhyàna). Trung Hoa dịch là Tư duy, cũng gọi là Tịnh lự, đều là lời nói chung cả định huệ.
Thiền là tiếng gọi chung của phương pháp tu định và huệ. Như trước đã nói, chúng ta ngồi thiền, biết vọng tưởng dấy lên không theo là huệ, không theo vọng tưởng tâm lặng lẽ an nhiên là định. Ðịnh huệ đầy đủ đó là thiền. Tông Thiên Thai gọi là Chỉ quán (Chỉ là định, quán là huệ)
Nguyên là chơn tánh bản giác của tất cả chúng sanh cũng gọi là Phật tánh, cũng gọi là tâm địa. Ngộ đó gọi là huệ, tu đó gọi là định, định huệ chung gọi là Thiền Na.
Chữ Nguyên chỉ cho chơn tánh bản giác của chúng sanh, cũng gọi là tâm địa, cũng có tên là Phật tánh, có chỗ gọi là chơn như, chơn tâm, Viên giác v.v... Nếu ngộ được nơi mình có cái chơn tánh bản giác đó thì gọi là huệ, y nơi đó để tu cho lặng vọng tưởng, tâm nhất như gọi là định, có định có huệ thì gọi là Thiền Na.
- Tánh này là cội nguồn của thiền, cho nên gọi là Thiền Nguyên (nguồn thiền), cũng gọi là "Lý Hạnh thiền na". Lý hạnh thiền na tức là cội nguồn này là thiền lý, quên cả mọi nghĩ tưởng để khế hội là thiền hạnh. Nên gọi là lý hạnh. Nhưng, nay góp lời của các thiền gia phần nhiều bàn về thiền lý, ít luận về thiền hạnh, cho nên lấy hai chữ "Thiền Nguyên" (Nguồn Thiền) làm đề.
Phật tánh là cội nguồn của pháp Thiền, vì vậy gọi là Nguồn thiền, cũng gọi là Lý Hạnh thiền na, chúng ta ngộ nơi mình có tánh bất sanh bất diệt gọi đó là thiền lý, y đó để tu dứt hết vọng tưởng là thiền hạnh. Vì các thiền gia hay bàn về thiền lý tức là nói chúng ta có cái bất sanh bất diệt, có Phật tánh v.v... mà ít luận về thiền hạnh tức là ít bàn về cách trừ vọng tưởng cho nên ngài mới lấy hai chữ Thiền Nguyên làm đề.
- Thời nay, có người gọi chơn tánh là thiền tức không đạt được ý chỉ lý hạnh, cũng không rành tiếng Trung hoa và Ấn độ. Song, cũng không phải rời chơn tánh riêng có Thiền thể. Chỉ chúng sanh mê chơn hiệp trần gọi là tán loạn, trái trần hiệp chơn gọi là thiền định.
Ngài nói: nếu chỉ gọi chơn tánh là thiền thì chúng ta chỉ biết thiền lý mà không biết thiền hạnh, như vậy ngài cho rằng chúng ta không rành tiếng Trung hoa và Ấn độ. - Tại sao vậy? - Vì thiền là gồm cả định và huệ, mới thấy được lý tánh tức là huệ, như vậy là thiếu sót nên nói là chưa đạt cả lý và hạnh. Song cũng không thể rời lý tánh mà riêng có thiền thể chỉ vì chúng sanh mê chơn hiệp trần nên gọi là tán loạn, trái trần hiệp chơn gọi là thiền định. Mê chơn tức là mê tánh giác của mình, hiệp trần là theo sáu trần bên ngoài, quên tánh giác chạy theo sáu trần là loạn động, bỏ sáu trần sống với tánh giác là thiền định. Nguyên tắc đó chúng ta nắm chắc thì tu dễ dàng. Khi nào tâm dính mắc sáu trần là biết lúc đó tâm chúng ta đang tán loạn, khi nào tâm không chạy theo sáu trần, yên lặng thì biết chúng ta đang thiền định. Giả sử chúng ta đi dưới hàng dương chơi, hay ngồi chơi một mình mà tâm không dấy niệm thì lúc đó chúng ta đang thiền định. Còn thân chúng ta ngồi im lìm bất động, mà tâm chúng ta chạy lăng xăng hết chỗ này đến chỗ kia, thì lúc đó là tán loạn. Hiểu rõ chỗ này rồi thì ứng dụng tu không sợ lầm.
- Nếu nói thẳng về bản tánh tức phi chơn phi vọng, không trái không hiệp, không tịnh không loạn, cái gì gọi là thiền?
Bản tánh không chơn cũng không vọng, chơn là đối với vọng mà nói, nếu còn thấy chơn thấy vọng thì không thấy chỗ tột cùng của bản tánh. Vì còn loạn nên mới nói định, định là đối với loạn mà nói, tâm nhất như rồi thì chữ định cũng bỏ luôn. Cho nên khi hỏi các thiền sư có tu thiền không? Các ngài trả lời: "Ta chưa từng học thiền". Nhưng chúng ta đừng nghe nói không định, không loạn, không mê, không giác, không vọng, không chơn, rồi lầm đó là không ngơ. Chúng ta hãy nghe ngài xác định:
- Huống là, chơn tánh này không riêng nguồn của thiền môn, cũng là nguồn của muôn pháp, cho nên gọi là Pháp tánh, cũng là nguồn mê ngộ của chúng sanh, cho nên gọi là Như Lai Tàng, Tằng thức; cũng là nguồn muôn đức của chư Phật, nên gọi là Phật tánh; cũng là nguồn muôn hạnh của Bồ tát, nên gọi là Tâm địa.
Chơn tánh này là nguồn cội của muôn pháp cho nên đứng về muôn pháp gọi là Pháp tánh, đứng về người thì gọi là Phật tánh. Chúng ta thấy nào là Pháp tánh, Như Lai tàng, Tằng thức, Phật tánh, Tâm địa v.v... Bao nhiêu tên đều để chỉ cái thể ấy, cho nên chúng ta đừng kẹt trên danh từ.
- Muôn hạnh không ngoài sáu pháp Ba la mật, thiền môn chỉ là một trong sáu pháp, nó ở phần thứ năm thì đâu thể gọi chơn tánh là một thiền hạnh? Song, một hạnh thiền định rất thần diệu hay phát khởi trí huệ vô lậu trên chơn tánh, tất cả diệu dụng muôn đức muôn hạnh cho đến thần thông quang minh đều từ định phát sanh, cho nên người học ba thừa (Tiểu thừa, Trung thừa, Ðại thừa) muốn cầu thánh đạo hẳn phải tu thiền, lìa thiền không có cửa nào khác, lìa thiền không có đường nào khác, đến như người niệm Phật cầu sanh Tịnh độ cũng phải tu thiền về mười sáu phép quán (thập lục quán) và niệm Phật Tam muội, Ban Châu Tam muội.
Trong sáu pháp Ba la mật, thiền định ở phần thứ năm nên đâu thể gọi chơn tánh là một thiền hạnh được. Nhưng thiền lại là nguồn cội của pháp tu, nếu muốn ngộ đạo, muốn thấy tánh, lìa tu thiền không làm sao được ngộ đạo thấy tánh. Như vậy hành thiền là hành đủ sáu pháp Ba la mật.
Ví dụ khi ngồi thiền đúng nguyên tắc, thì khi ngồi coi như thân đã chết, dù có muỗi cắn kiến bò, hay con gì chích cũng không cục cựa, không đuổi, không đập, gọi là giữ giới. Khi bị cắn, chúng ta liền phát nguyện: "Nguyện ngươi hút máu ta được no đủ mạnh khỏe, khi chết rồi được sanh làm người gặp Phật pháp tu hành".
Như vậy là chúng ta đã tu hạnh bố thí rồi, Khi ngồi thiền bị ngứa ngáy đau nhức v.v.. chúng ta nhẫn chịu, chưa tới giờ nhất định không xả, ấy là tinh tấn. Trong khi ngồi, biết vọng tưởng không theo đó là có trí huệ. Không theo vọng tưởng thì tâm lặng lẽ như như, ấy là định. Tu một hạnh thiền định là chúng ta tu đủ lục Ba la mật. Chủ yếu là chúng ta phải gan dạ, phải có nghị lực mới làm chủ được mình, trước hết chúng ta phải làm chủ thân, rồi từ từ làm chủ tâm, nếu không gan dạ chinh phục được thân thì không sao chinh phục được tâm. Chúng ta gan dạ chịu đựng được những khó khăn trong khi tu, thì khi chết đến thân thể có nhọc nhằn chúng ta mới làm chủ được. Có lần tôi ngồi thiền trên tảng đá ngoài sân, con gì bò lên mình, bò lên hông, ngay chỗ nhột nhứt nó cào cào, rồi kẹp tôi một cái đau điếng. Tôi rởn ốc, nhưng mặc kệ nó, cùng là chết chớ có gì. Tới sáng tôi thấy chỗ ấy sưng một cục. Phải gan dạ! Ngồi thiền muỗi cắn chịu không được thì làm được gì? Có người ngồi thiền, muỗi cắn thì đập, ngứa ngáy thì gãi làm sao yên được? Chúng ta bây giờ tu, ngồi ở trong thiền đường hoặc trong thất an ổn quá. Còn các vị Tỳ kheo thuở xưa, ngồi trong rừng có đủ thứ nguy hiểm nào cọp, beo, muỗi mòng, rắn rít mà các ngài vẫn an nhiên chịu đựng, như vậy mới mau đắc đạo. Chúng ta ngồi trong chổ an lành, những cái khó khăn nho nhỏ hãy ráng chịu đựng cho quen.
Thiền là cội gốc của sự tu hành, người tu muốn cầu Thánh đạo, lìa thiền không có con đường nào khác để đi, cho đến người tu Tịnh độ cũng phải tu thiền. Vậy mà có người dám nói tu thiền điên, tu thiền lạc v.v... Chỉ có chúng sanh đời sau điên đảo lầm lạc nhiều, bỏ gốc theo ngọn "Y nhơn bất y pháp" mới nói như thế.
NĂM THỨ THIỀN
- Chơn tánh không nhơ không sạch, phàm thánh không khác, nhưng thiền có cạn có sâu, giai cấp sai biệt.
Ðứng về mặt chơn tánh thì không có cạn sâu, phàm thánh. Nhưng về phương pháp tu để ngộ chơn tánh, thì có cạn sâu, nên sau đây ngài giải thích cho chúng ta hiểu rõ có năm thứ thiền khác nhau:
1. Người chấp khác, ưa cõi trên chán cõi dưới mà tu, là thiền ngoại đạo.
Thiền ngoại đạo là do nơi chấp khác, nghĩa là chấp ngoài tâm mình có một pháp nào khác để giúp mình đắc đạo. Như khi ngồi thiền, mong có thiêng liêng tới dựa vào hay là điểm đạo v.v... Hoặc ngồi thiền để luyện được không già, sống lâu. Hoặc là tu theo pháp thiền xuất hồn ngao du nơi này nơi kia. Hay tu luyên theo pháp thiền chuyển luân xa. Hoặc ngồi thiền lựa giờ tý, ngọ, mẹo, dậu gọi là những giờ linh thiêng để có đấng thiêng liêng nào đó về tựa cho mình thêm sức mạnh v.v... Nói tóm lại, hễ một pháp tu nào không nhắm vào sự gạn lọc tự tâm, loại bỏ vọng tưởng mà chỉ trông cậy vào sự linh hiển bên ngoài thì đó là thiền ngoại đạo. Người tu theo đạo Phật, dù cạn dù sâu đều chủ yếu là gạn lọc tâm mình từ thô đến tế. Gạn lọc cho đến khi nào tâm hoàn toàn thanh tịnh, đó là y tánh khởi tu. Nên nhà Phật thường dùng câu: "Ngoài tâm cầu Phật là ngoại đạo".
Nhưng bây giờ đa số tin theo sự đồn đại của nhiều người, hoặc tin theo sự giới thiệu của báo chí, hầu hết tu theo thiền ngoại đạo. Vì họ nói rằng:
- Nhập thiền sẽ ngao du tự tại,sẽ thấy những cảnh giới lạ, thấy Phật đến xoa đầu thọ ký, biết được quá khứ, vị lai.
Họ giới thiệu không biết bao nhiêu là chuyện huyền bí, không nhắm vào sự loại trừ vọng tâm, đó là lối tu lầm lạc. Là người Phật tử học đạo, phảisáng suốt, muốn học một pháp tu nào phải nghiên cứu cho kỹ, đâu là chánh, đâu là tà, chớ vội tin mà lầm lạc. Trong kinh Phật nói: "Một khi lầm đường rồi khó quay đầu trở lại", khi phát tâm tu chúng ta mong tu để thành Phật mà lạc vào ma đạo rồi muốn trở lại thật là khó khăn, người tu nên cẩn thận.
2. Người tin chắc nhơn quả, cũng do ưa chán mà tu, là thiền phàm phu.
Tin chắc nhơn quả tức là căn cứ vào lý nhơn quả mà tu thiền. Như trong kinh nói: chúng ta tu chứng Sơ thiền sẽ được sanh lên cõi trời Sơ thiền. Chứng được Nhị thiền sẽ sanh về cõi trời Nhị thiền, cho đến chứng được Tứ thiền sẽ sanh về cõi trời Tứ thiền. Cõi trời Sắc giới cũng thế. Như vậy vì ham thân đẹp đẽ, vì thích được sống lâu ở cõi trời cho nên từ cái nhơn phàm phu này mà tu thì sẽ sanh về cõi trời Sắc giới sung sướng an nhàn. Nhưng dù sanh được cõi trời, khi hết phước cũng bị đọa lạc. Tứ thiền chẳng những có trong nhà Phật mà cả ngoại đạo cũng có tu. Theo đạo Phật, người tu được Tứ thiền rồi, nếu khéo léo từ Tứ thiền tiến qua Diệt thọ tưởng định, chóng giải thoát. Hoặc từ Tứ thiền qua Tứ không rồi mới qua Diệt tận định và giải thoát. Những người kém, tu chứng được Tứ thiền sanh lên cõi trời Sắc giới, còn ở trong Sắc giới là còn ở trong vòng phàm phu.
3. Người ngộ lý thiên chơn, thấy ngã không mà tu, là thiền Tiểu thừa.
Ngộ lý thiên chơn tức là thấy rõ thân ngũ uẩn này không thật. Những vị này chỉ ngộ được ngã không, chứ chưa chứng được pháp không. Nghĩa là khi tu thấy được cõi đời là vô thường, đau khổ, không có cái ta thật nên cố gắng tu cho được Niết bàn thanh tịnh an vui.Vì còn thấy có Niết bàn nên gọi là pháp hữu, hay là thấy ngã không thật, mà thấy Tứ đế, Thập nhị nhân duyên v.v... là thật, đó là pháp hữu, gọi là Tiểu thừa.
4. Người ngộ ngã pháp đều không, hiển bày chơn lý mà tu, là thiền Ðại thừa.
Ngộ ngã pháp đều không tức là khi tu theo thiền tông, nhận ra được cái ngã không thật, và các pháp như: Niết bàn, sanh tử, Tứ đế, Thập nhị nhân duyên cho đến Lục độ cũng không thật, chẳng qua là do tùy bịnh cho thuốc mà đặt tên đó thôi, rõ hai lẽ đó cho nên ngã pháp đều không chấp. Những vị này hằng dùng trí Bát nhã quán chiếu để tâm được định, ấy là thiền Ðại thừa.
5. Người đốn ngộ tự tâm xưa nay thanh tịnh, vốn không có phiền não, trí tánh vô lậu sẵn tự đầy đủ, tâm này tức là Phật, cứu cánh không khác, y đây mà tu là thiền Tồi Thượng thừa, cũng gọi là thiền Như Lai Thanh Tịnh, cũng gọi là Nhất Hạnh Tam Muội. Ðây là căn bản của tất cả Tam muội. Nếu người hay niệm tu tập tự nhiên dần dần được trăm ngàn Tam muội. Môn đệ Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma lần lượt truyền nhau là thiền này.
Ðây là Tối Thượng thừa thiền, hay gọi là Như Lai Thanh Tịnh thiền, cũng gọi là Nhất Hạnh Tam Muội. Người tu theo thiền này là đốn ngộ tự tâm xưa nay thanh tịnh, nghĩa là nhận ra nơi mình có cái tâm bất sanh bất diệt, tâm ấy không ô nhiễm, không tăng không giảm, không cấu không tịnh v.v... trí tánh tự đầy. Nhận ra tâm thể rồi, y nơi đó mà tu cho đến khi viên thành Phật quả thì gọi là thiền Tối Thượng thửa. Nhưng làm sao y nơi đó mà tu? Khi chúng ta nhận ra nơi mình có bản tâm thanh tịnh, song còn bị vọng tưởng che mờ, nên khi tu vọng tưởng dấy lên chúng ta không theo, bao giờ vọng tưởng sạch rồi thì chơn tâm hiện bày. Như vậy, gọi là y cứ nơi bản tâm mà tu, gọi là thiền Như Lai Thanh Tịnh.
Nói đến thiền Như Lai Thanh Tịnh, tôi nhớ có một lần tôi về Huệ Nghiêm, mấy chú đem lại một tờ báo, đọc cho tôi nghe. Trong đó nói khi nhập Như Lai Thanh Tịnh thiền, hào quang rực rỡ, tôi bảo: "Ðó là thiền ngoại đạo". - Tại sao? - Vì kinh Kim Cang có câu: "Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng". Nghĩa là phàm cái gì có hình tướng đều là hư dối. Cho nên khi nhập Như Lai Thanh Tịnh thiền mà hiện hào quang rực rỡ ấy là lầm nhận cái hư dối cho là chân thật. Nhưng Phật tử không biết, nghe nói có hào quang thì hay lắm theo rất động. Với người có mắt sáng biết đó là lầm. Vì bất cứ một hiện tượng nào hiện ra trong khi tu đều là hư vọng, dù cho hiện hào quang, dù cho hiện Phật đều là tướng hư dối. Khi nào tâm chúng ta sạch hết vọng tưởng, thanh tịnh như như mới không lầm lạc... Cho nên, người biết tu thiền rồi, khi nghe người khác nói cách tu là biết người ấy tu lạc hay tu đúng. Còn người chưa biết tu nghe người khác diễn tả hào quang rực rỡ thì ham thích. Hiện tại nó hấp dẫn một số người tương đối trí thức. vì những người ấy quá chuộng hình tướng cho nên người ta lợi dụng danh từ Như Lai Thanh Tịnh thiền của Phật Tổ và lồng pháp tu của ngoại đạo, khiến Phật tử không biết hăm hở tu theo, thật là đáng thương!
Nhân đây, tôi kể một câu chuyện có thực trong thời đại này cho quý vị nghe: Một lần nọ, tôi về Saigon, gặp Thượng Tọa Thiện Siêu, Thư ký của Giáo Hội PGVNTN, Thượng Tọa nói:
- Người ta đồn có một vị xưng là Giáo chủ hội Pháp Hoa và được thiên hạ nể lắm.
Tôi hỏi:
- Vì sao nể?
Thượng Tọa nói:
- Có hai điểm mà người ta khâm phục:
a. Một là ông ấy có gia đình, ăn mặn, hút thuốc thơm... Ông ấy cũng như bao nhiêu người tầm thường khác. Nhưng đặc biệt có nhiều người dùng nhiều câu nói nặng nề chỉ trích ông, ông chỉ im lặng an nhiên không giận, không tỏ vẻ bất bình. Họ cho rằng quý thầy tuy tu từ nhỏ giữ giới thanh tịnh, song nếu ai nói gì sai, các thầy nổi giận, điều ấy chứng tỏ ông ấy cao quý hơn thầy. Vì vậy họ khâm phục.
Nhưng chuyện này đối với tôi thì khác. Tôi ví dụ như có một người không có lỗi lầm gì hết mà bị người khác rầy rà, họ có cãi lại không? - Dạ cãi - Bởi vì họ không có lỗi mà rầy họ cho nên họ cãi. Còn một người quá nhiều lỗi lầm bị người khác chê, họ có cãi không? - Dạ không - Vì biết mình bậy nên không cãi. Cũng vậy, ông ấy không cãi mà phải gượng gạo tỏ ra hơn người, đặng làm thầy thiên hạ mới được. Nếu thật sự ông ấy thanh tịnh, bị chỉ trích mà không giận mới đáng khâm phục, còn tội lỗi thật nhiều bị chê dở không cãi lại ấy là chuyện thường có gì lạ đâu?
b. Hai là ông ấy chủ trương: Ông là người ra đời để phá chấp, cho nên có ai tới thấy ông ăn mặn, hút thuốc thơm, có gia đình, chỉ trích thì ông ấy nói: "Chấp!". Thiên hạ cho ông là người phá chấp và lấy kinh Duy Ma Cật ra dẫn chứng.
Chúng ta nên biết trường hợp của ngài Duy Ma Cật thị hiện là để phá chấp cho những vị Thanh văn Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên... Các ngài đã tu đắc quả thánh rồi, sợ các ngài kẹt trong Niết bàn vắng lặng, không phát tâm đại thừa làm lợi ích chúng sanh, nên Duy Ma Cật thị hiện phá chấp cho những vị đó. Còn bây giờ, phàm phu đang nhiễm ngũ dục mà nêu cái gương ô nhiễm, là phá chấp hay là khuyến khích cho người ta lún sâu hơn trong bùn lầy ngũ dục? Chúng ta là người tu theo Phật phải đặt lại câu hỏi cho vấn đề này: Hai vị giáo chủ, Thiên chúa giáo là chúa Jésu và Phật giáo là Phật Thích Ca, cả hai đều từ bỏ gia đình đem cuộc đời son trẻ phục vụ cho chúng sanh. Các Ngài là người đi ngược dòng trần tục, còn vị "Giáo chủ" này đã không từ bỏ mà có tới hai vợ. Như vậy làm sao tin được? Kinh Viên Giác, kinh Lăng Nghiêm, đức Phật dạy: "Chúng sanh nếu còn một niệm ái là còn luân hồi sanh tử". Nếu tự mình cởi trói không được thì làm sao đưa người đến chỗ giải thoát được? Vậy mà một số Phật tử cũng tin theo, thật là đáng thương xót! Vì họ lợi dụng danh từ Như Lai Thanh Tịnh thiền nên Phật tử lầm, vả lại tuyên truyền bằng báo chí nên dễ tin.
Khi ngồi thiền tâm thanh tịnh thấy có hào quang, chúng ta không nên mừng, vì đó là huyễn tướng do tâm tạo ra, nếu mừng là bịnh. Trong lúc ngồi tu, những hiện tượng lạ xảy ra chúng ta đừng lấy đó làm chỗ an trụ. Chúng ta tu cốt làm sao cho tâm được thanh tịnh là đủ, tâm thanh tịnh là trở về bản chất bất sanh bất diệt của mình, còn hiện tượng là có hình tướng, mà có hình tướng là có sanh diệt, nếu chúng ta chấp vào cái sanh diệt cho là chân thật thì lạc vào đường tà. Phải phân biệt chánh tà cho rành rẽ, đừng nghe người ta nói đâu tin đó, không khéo tu là mong cầu giải thoát mà trái lại trói buộc gỡ không ra. Cho nên đây nói Như Lai Thanh Tịnh thiền là tu thiền, nhận ra được bản tánh thanh tịnh của mình xưa nay là thanh tịnh, nhận ra cái đó rồi y cứ tu hành, gọi lả Kiến tánh khởi tu. Tôi xin lặp lại, tu thiền là chủ yếu dẹp hết vọng tưởng cho tâm thanh tịnh, nếu mong cầu tướng lạ, thì sẽ lạc vào đường tà. Hãy cẩn thận! Ngài Khuê Phong nói:
- Thiền này là căn bản của tất cả chánh định, nếu người hay niệm tu tập tự nhiên dần dần được trăm ngàn Tam muội.
Nếu từ phút giây chúng ta luôn luôn không theo vọng tưởng và sống được với bản tánh thanh tịnh của mình thì lần lần sẽ được trăm ngàn tam muội, cho nên gọi đó là vua của Tam muội, cũng gọi là Nhất Hạnh Tam muội, đều chỉ cho Như Lai Thanh Tịnh thiền.
Học kỹ năm cách tu thiền, chúng ta sẽ thấy rõ đường lối tu không còn lầm lẫn nữa.
- Tổ Ðạt Ma chưa đến Trung Hoa, xưa nay các nhà nhận hiểu đều là bốn thiến, tám định ở trước, chư vị cao Tăng tu hành đều được công dụng. Ngài Nam Nhạc, Thiên Thai dạy y lý tam đế tu tam chỉ quán, giáo nghĩa rất là viên diệu, nhưng cửa tiến vào có thứ lớp cũng chỉ là hành tướng các thứ thiền ở trước.
Khi Tổ Ðạt Ma đến Trung Hoa, thì những vị cao Tăng ở đây cũng tu thiền, nhưng các vị tu theo Tứ thiền là: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Tám định là gồm Tứ thiền cộng với Tứ không là: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Các vị cao Tăng tu theo thiền này đều được công dụng như ngài Nam Nhạc, ngài Thiên Thai. Ngài Nam Nhạc tức là Huệ Tư thầy của Tổ Thiên Thai. Hai vị đó chủ trương ý lý tam đế, tu tam chỉ là tam quán. Thường thường trong nhà Phật chia ra: Chơn đế và Tục đế. Nhưng theo đường lối của Tổ Nam Nhạc, Thiên Thai thì lại thêm một đế nữa là: Chơn đế, Tục đế và Ðệ Nhất nghĩa đế. Các ngài căn cứ theo kinh điển Ðại thừa để lập ra một phương pháp tu cho tông Thiên Thai và thường dẫn bài kệ trong luận Trung Quán:
Nhơn duyên sở sanh pháp,
Ngã thuyết tức thị không.
Diệc danh vi giả danh.
Diệt danh trung đạo nghĩa.
Ngài Nam Nhạc ngộ bài kệ trên đây rồi y cú vào đó mà chia ra tam quán.
Nhơn duyên sở sanh pháp, Ngã thuyết tức thị không, là các pháp do nhơn duyên sanh ra, ta nói nó là không (chữ ta là chỉ các đức Phật).
Kinh Bát Nhã cũng nói: Các pháp do nhơn duyên sanh tự tánh đều không. Vậy thì từ nơi hình tướng mà chúng ta y nơi pháp nhân duyên nên thấy được tánh Không của các pháp. Ấy gọi là Không quán..
Diệc danh vị giả danh(Cũng gọi là giả danh). Vì tánh của các pháp là không, duyên hợp giả có, nên chỉ có giả danh. Ấy gọi là Giả quán.
Diệc danh trung đạo nghĩa (Cũng gọi là nghĩa Trung đạo). Biết các pháp tự tánh không, do duyên hợp giả có nên tâm không mắc kẹt ở hai bên (có, không), nơi đây nhận ra bản tánh bất sanh bất diệt, đó là nghĩa Trung đạo.
Không quán gọi là Chân đế, Giả quán gọi là Tục đế, Trung quán gọi là Ðệ nhất Nghĩa đế. dùng ba pháp quán trên tu được thành tựu thì tâm lặng hết vọng tưởng, ấy gọi là Tam chỉ; nhơn tam quán mà được tam chỉ. Ðó là tông chỉ của ngài Nam Nhạc truyền đến ngài Thiên Thai. Pháp quán này giáo nghĩa rất là viên diệu, tức là tròn đầy mầu nhiệm. Nhưng vì chỗ tiến vào từ từ chớ không trực chỉ như Thiền tông nên nói hành tướng như các thứ thiền trước.
- Duy chỗ truyền của Tổ Ðạt Ma đốn đồng với Phật thể, khác xa các môn, cho nên người tập Thiền tông khó đạt được ý chỉ, đạt được tức thành Thánh, chóng Bồ đề, không đạt được tức thành ma, mau vào địa ngục đồ thán (tro than).
Chỗ truyền của Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma đốn đồng với Phật thể. Tại sao đồng? Vì khi Phật ngộ đạo là ngộ đựợc bản tâm thanh tịnh, chúng ta bây giờ tu kiến tánh cũng là ngộ bản tâm thanh tịnh. Chỗ thấy thì đồng với Phật, nhưng Phật thành Phật là vì ngộ bản tâm rồi thì loạn tưởng sạch hết; còn chúng ta ngộ được bản tâm cũng tròn đầy như vậy, nhưng vọng tưởng phiền não chưa sạch, vì vậy chúng ta còn phàm phu. Ðứng về thể thì đồng với Phật, về dụng thì chúng ta còn phải tu từ từ, ấy là điểm khác xa. Cho nên đối với người tu theo Thiền tông rất khó đạt được ý chỉ cao siêu này, nếu đạt được thì rơi vài địa ngục tro than. Vì vậy, tôi thường nói thiền cũng như con dao bén, biết xử dụng thì rất lợi ích, không biết thì tai hại vô cùng! Tại sao vậy? Vì chúng ta nhận ra tự tánh, không theo vọng tưởng và sống với tự tánh thanh tịnh ấy. Nếu một đời chúng ta làm không xong, thì cũng tỉnh táo để đời khác làm tiếp; còn người không đạt được tự tánh, nghe nói không tội, không phước, không nhơn, không quả, không thiện, không ác, hay đói ăn, mệt ngủ v.v... rồi chấp vào những lời đó mà tha hồ thụ hưởng và không chịu tu hành, như vậy là sa vào địa ngục. Tu thiền mà không nhận ra ý chỉ thì dễ lạc lắm. Nên khi soạn dịch những cuốn sách Thiền, tôi không chịu giải thích, tùy ai đọc hiểu thì hiểu, không hiểu coi như đọc chơn ngôn thần chú cũng được. Có nhiều người phàn nàn: "Thầy dịch sách đọc không hiểu". Tôi biết, nhưng vẫn không giải thích. Phải chăng tôi ích kỷ? - Không - Vì tôi thấy trường hợp Trúc Thiên dịch sách thiền, chỗ nào khó là ông giải thích, cho nên một số thanh niên thích lắm, nhưng rốt cuộc trở thành bịnh. Ðối với thiền khi nói đến chỗ cứu cánh thì vượt ngoài vòng đối đãi tầm thường: không thiện, không ác, đói ăn, mệt ngủ... Ðối với thanh niên bây giờ, không ưa ràng buộc, thích cái gì làm cái nấy, họ cho đó là sống theo thiền, nếu thích mà không làm là còn lẩn quẩn trong vòng tu thiện bỏ ác, còn tầm thường chưa phải là thiền. Nếu hiểu thiền như vậy là dễ đi xuống địa ngục. Vì vô chấp là tâm hết sạch vọng tưởng, sống phóng khoáng không còn bị cái nhìn nhị nguyên chi phối, người ấy sống được với bản tánh nhất như. Chúng ta còn đầy ấp vọng tưởng, đang bị phiền não phủ che mà nói là vô chấp, ưng chi làm nấy đó là phóng túng làm theo dục vọng, theo bản năng chứ đâu phải sống theo bản tánh. Cho nên trong bài Tín Tâm Minh của Tổ Tăng Xán có câu: "Hào ly hữu sai, thiên địa huyền cách". Nghĩa là sai một ly, đất trời xa cách. Tôi đã từng nhắc nhở:
- Tu Thiền phải khéo léo, nếu hiểu lầm một chút là tai họa. Thà là để cho người không hiểu, nếu hiểu thì hiểu cho chín chắn, vì chỗ đó đó đẽ bị lầm lắm.
Mới nghe qua thấy dễ, tưởng chừng như sống được, nhưng đến khi dụng tâm tu mới thấy khó. Nên ở đây tôi chủ trương dịch sách không giải thích, để người mộ thiền muốn hiểu kỹ, tới hỏi, tôi sẽ giải thích và hướng dẫn cho tu một cách tường tận.
- Chư Tổ trước ngại sự lầm lạc nên một người truyền một người, đời sau có chỗ bằng cứ nên sự truyền bá rộng rãi. Pháp truyền đã lâu thành tệ, lầm lạc khá nhiều, nên người học kinh nghi báng cũng nhiều.
Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma sang Trung Hoa, ngài chỉ truyền cho Tổ Huệ Khả và một ít vị thôi, vì sợ người hiểu lầm. Nhưng sau này y cứ vào Ngữ lục và các Thiền sư trước, trong đó dạy rõ đường lối tu hành nên mới truyền bá rộng rãi. Bây giờ chúng tôi dám nói rộng với quý vị là vì căn cứ vào lời dạy của Phật trong kinh điển, lời dạy của Tổ trong Luận, trong Ngữ lục và hành trạng của các thiền sư. Nhưng vì truyền pháp đã lâu, nên thành tệ và lầm lạc khá nhiều khiến người đâm ra nghi báng cũng nhiều.
ÐỐN GIÁO, TIỆM GIÁO
- Phật nói có đốn giáo, tiệm giáo. Thiền mở bày có đốn môn, tiệm môn. Hai giáo và hai môn mỗi phần phù hợp nhau. Nay người giảng pháp nghiêng giải giáo tiệm, người tu thiền nghiêng truyền môn đốn, người giảng pháp, người tu thiền gặp nhau thì cách biệt như Hồ, Việt. Tông Mật tôi không biết đời trước tại sao huân được tâm này: "mình chưa giải thoát, muốn giải thoát cho người", vì pháp quên thân mạng, trong tâm thương người thống thiết mỗi khi than: "người cùng pháp sai, pháp do người thành bịnh". Nên riêng chọn trong Kinh, Luật, Luận, Sớ mở rộng cửa giới, định, huệ, bày đốn ngộ giúp cho tiệm tu, chứng minh lời Tổ nói hợp với ý Phật.
Kinh Phật dạy cũng chia ra giáo nhanh chóng và giáo theo thứ lớp. Thiền tông cũng có pháp đốn, tiệm. Ðốn là chỉ thẳng nơi tâm có bản tánh bất sanh bất diệt, y nơi đó khởi tu. Tiệm là có thứ lớp, như Lục Diệu pháp môn: Sổ tức, tùy tức, chỉ, quán, hoàn và diệt. Tiệm tu xong pháp này rồi tới pháp kia qua nhiều tầng bậc mới xong việc. Hai giáo và hai môn này đều phù hợp nhau, cứu cánh là đưa người tới chỗ giải thoát. Nhưng lúc đó (thời ngài Khuê Phong) người giảng kinh thì nghiêng về tiệm, người truyền thiền thì nghiêng về đốn. Cho nên hai bên không hợp nhau, cách biệt như Hồ, Việt (xưa bên Trung Hoa hai nước Hồ, Việt xung đột, không gần nhau được). Lúc bấy giờ, thấy tình trạng truyền bá Phật pháp bế tắc, nên ngài vì pháp, quên thân mạng và khởi tâm đại bi: "mình chưa giải thoát mà muốn giải thoát cho người", đó là tâm từ bi của Bồ tát. Như vậy có trái với đạo lý không, vì mình tu chưa xong mà ra dạy người?
Theo tinh thần của Thiền tông, có thể làm thiện tri thức trong hai trường hợp: một là giải ngộ, hai là chứng ngộ:
1. Giải ngộ: là sau khi nhận ra nơi mình có bản tánh bất sanh bất diệt, có thể làm thiện tri thức hướng dẫn người khác tu. Cũng như người biết đường về nhà, mà chưa tới nhà, nhưng thấy anh em bà con tìm đường về nhà mà không biết đường đi, người ấy dừng lại kêu họ, chỉ dùm con đường về nhà. Ðó là trường hợp của ngài Khuê Phong, chưa xong mà muốn làm lợi ích cho người nên phải ra giảng dạy.
2. Chứng ngộ: là trường hợp của đức Phật, sau khi hoàn toàn xong việc, ngài ra giáo hóa chúng sanh.
Do thấy "Người cùng pháp sai, pháp do người thành bịnh". Nên ngài rút gọn những lời dạy của của Phật Tổ trong Kinh, Luật, Luận, Sớ đdể cho người sau biết được gốc mà tu hành. Và ngài chứng minh lời của Tổ phù hợp với ý Phật.
Người cùng pháp sai là pháp Phật dạy một đường, người thực hành một nẻo, nên tu không được lợi ích an lạc mà lại thành bịnh. Khi A Hàm kể chuyện:
Một hôm có người ngoại đạo đến hỏi Phật:
- Này Cù Ðàm, giáo lý của ngài có Niết bàn chăng? Nếu có, thì có người chứng được Niết bàn không?
- Giáo lý của ta có Niết bàn và có người chứng được Niết bàn.
- Cù Ðàm đã chứng chưa?
- Ta đã chứng được.
- Nếu giáo lý của ngài có Niết bàn, ngài đã chứng Niết bàn. Vậy tất cả đệ tử của ngài có được Niết bàn hết chăng?
- Ðệ tử của ta, có người chứng được Niết bàn, có người không chứng được Niết bàn.
- Tại sao giáo lý của ngài có Niết bàn, ngài đã chứng được, mà ngài dạy đệ tử có người chứng, người không chứng?
Phật hỏi lại:
- Ở đây có thành Vương Xá, vậy ông có biết thành Vương Xá không?
- Dạ biết.
- Ông có rành đường đến thành Vuơng Xá không?
- Dạ rành.
- Có thành Vương Xá và ông rành đường về thành Vương Xá, giả sử có ông A và B nhờ ông chỉ dùm đường đến thành Vương Xá, khi đó ông chỉ: đi thẳng tới ngã ba thì quẹo trái, đi một đoạn nữa tới vườn hoa, bên kia vườn hoa là thành Vương Xá. Nhưng ông A đi tới ngã ba thì quẹo tay mặt, như vậy ông A có tới thành Vương Xá không?
- Không?
- Ông B đi đúng theo lời ông chỉ. Vậy ông B có tới thành Vương Xá không?
- Tới.
- Tại sao có thành Vương Xá, ông là người biết rành đường về thành Vương Xá, ông chỉ đường cho hai người kia đi, tại sao người đến, người không đến, lỗi tại ai?
- Lỗi tại người đi. Nếu người đi đúng theo lời tôi chỉ thì tới, còn không y theo lời tôi chỉ thì không tới.
Ðức Phật kết luận:
- Ta cũng vậy,giáolý của ta có Niết bàn và ta là ngưuời đạt tới Niết bàn, nhưng ta dạy đệ tử ai y theo lời ta dạy mà tu thì đạt tới Niết bàn, nếu không y theo thì không đến, đâu phải lỗi tại ta.
Ðó là người cùng pháp sai. Như chúng ta học kinh Bát Nhã, nếu ứng dụng đúng theo lời Phật dạy, luôn luôn dùng trí Bát nhã quán chiếu thì đâu có khổ. Nghe giảng thì hiểu, nhưng chúng ta có bịnh hay quên, lúc quên thì phiền não dấy lên, lỗi tại chúng ta chứ đâu phải tại lỗi tại Phật.
Pháp do người thành bịnh, vì người hiểu lầm lời Phật dạy, thực hành không đúng nên thành bịnh. Có một nữ Phật tử đi chùa, nghe quý thầy giảng về lý nhân quả:
- Ai ở đời này khổ là do đời trước tạo nhân ác, ai gặp may mắn vui vẻ là do nhân đời trước làm lành.
Một hôm có người ăn mày vô nhà cô Phật tử ấy xin, cô bảo người làm đuổi ra không cho. Người làm hỏi:
- Tại sao cô đi chùa mà không có lòng từ bi bố thí cho người nghèo khổ?
Cô đáp:
- Tại kiếp trước ông ấy gieo nhân ác, bây giờ để ông ấy khổ bù lại tội khi xưa, cho làm chi, ông trả quả không xong.
Người hiểu lý nhân quả và thực hành như vậy là sai. Vẫn biết rằng người làm ác là gặt lấy quả khổ, đó là phần của họ. Còn chúng ta là Phật tử đã học lý nhân quả, tại sao thấy họ khổ không khởi lòng từ bi cứu giúp? Nếu gieo nhân lành thì sẽ hưởng quả tốt chứ có mất mát đi đâu? Cô Phật tử lý luận như vậy là hiểu lầm lời Phật dạy, hay muốn che đậy tâm bỏn sẻn của mình? Vậy ai là người hiểu pháp sai hãy tự kiểm điểm lại.
Vì thấy những tệ trạng trên, nên ngài Khuê Phong với lòng từ bi tha thiết, muốn làm lợi ích cho người, ngài đã quên thân mạng, nghiên cứu rút gọn ý chỉ của Phật trong Tam tạng để chỉ bày thế nào là giới, định, huệ cho người đốn ngộ khởi niệm tu. Ngài làm vậy là để chứng minh lời Phật nói không khác với ý Tổ. Phật và Tổ dù cách bao nhiêu kiếp, dù có khác ngôn ngữ, nhưng ý chỉ không khác.
- Ý có gốc ngọn, tùy đó chỉ bày nhưng văn mênh mông khó tìm. Người học rộng tuy nhiều, kẻ vững chí rất ít. Huống là dẫm chân lên danh tướng ai hay phân biệt vàng thau, luống tự nhọc nhằn chưa thấy được cơ cảm.
Ý của Phật Tổ nói có gốc ngọn đàng hoàng, nhưng văn từ quá nhiều, người học đạo khó tìm ra manh mối. Người đa văn thì nhiều, kẻ vững chí tu hành thì ít. Người đa văn chỉ học trên danh tướng nên không thể phân biệt cái nào gốc, cái nào ngọn để tu hành, cứ mò mẫm trong Tam tạng giáo điểm rất nhọc nhằn mà không có chút phần tương ưng.
- Tuy Phật nói: "Bi tăng là hành", nhưng tôi tự lo ái kiến khó ngừa, bèn bỏ chúng vào núi tập tu định huệ, trước sau bặt nghĩ, tính ra có mười năm.
Tuy nghe đức Phật nói lòng từ bi tăng trưởng mà phát ra hành động. Ngài Khuê Phong mới giải ngộ đã ra giảng dạy giáo hóa người. Nhưng ngài e rằng Ái kiến khó ngừa nên ngài bèn bỏ chúng vào núi tu tập định huệ hết mười năm.
Bệnh ái kiến là sao? Ví dụ tôi phát tâm dạy hai ba chục thiền sinh. Trong số đó chú nào có tánh tình dễ thương tôi thương nhiều, mấy chú kia tôi thương ít. Sự thiên lệch đó là ái kiến. Cũng như các Sư cô nuôi mấy em mồ côi, ban đầu nuôi chúng vì lòng từ, nhưng nuôi lâu thấy đứa nào kháu khỉnh đễ thương thì thương như con. Lúc đó lòng từ bi đã biến thành ái kiến. Từ bi thì hợp với sự tu hành, nhưng ái kiến là bệnh nên phải ngừa.
Ngài Khuê Phong, trước vì lòng từ bi ra giảng dạy cho người bớt đấu tranh với nhau. Ngài đã giải ngộ rồi còn sợ làm một lúc sanh bệnh ái kiến, nên phải bỏ chúng vào núi để tu cho tâm lặng hết các vọng tưởng, tính ra đến mười năm. Chúng ta thấy người xưa hết sức dè dặt, lượng được khả năng của mình là lo ngừa trước, chứ không phải như chúng ta bây giờ, đạo lực chưa tới đâu, kiến giải còn nông cạn mà lo giáo hóa người này, dạy dỗ người kia, ra vẻ ta đây là thầy thiên hạ chỉ là bịnh.
- Tình tập vi tế khởi diệt rõ ràng nơi định huệ, pháp nghĩa sai biệt la liệt thấy trong tâm không ánh sáng chiếu qua kẻ hở thấy bịu bặm lăng xăng, hồ nước lóng trong nhìn dưới đáy thấy hiện hình vạn tượng.
Khi tu, tâm được thanh tịnh rồi thấy rõ ràng những vọng tưởng nhỏ nhiệm khởidiệt lăng xăng, như ánh sáng chiều qua kẽ hở thấy bịu bặm lăng xăng. Ánh sáng dụ cho định huệ, buị bặm dụ cho vọng tưởng nhỏ nhiệm. Tâm chưa yên chúng ta chỉ thấy được vọng tưởng thô, khi tâm thanh tịnh rồi mới thấy được những vọng tưởng vi tế lăng xăng. Chẳng khác nào mặt biển khi gió dừng, những lượn sóng to đã hết, nhưng những lượn sóng nhỏ lăn tăn vẫn còn. Và khi tâm đã thanh tịnh thì đọc kinh sách là hiểu và hiểu rất rành rẽ chính xác, không còn ngờ vực điều gì nữa. Nghĩa lý sai biệt hiện bày rõ ràng.
Nói về Phật Tổ cách xa, quý vi hơi khó tin, căm cứ nơi tôi mà nói thì rất gần gũi với quý vị. Nếu đem so sánh sở học của tôi vớicác thầy, bè bạn, thì tôi thua nhiều vì tôi học ít lắm, chỉ học có mười năm ở Việt Nam, còn thầy Huyền Vi, thầy Thiền Ðịnh ngoài mười năm chung học với tôi, các thầy đi Ấn Ðộ, Nhật Bản học năm mười năm nữa. So sở học, hai thầy ấy hơn tôi hai ba lần. Nhưng tại sao bây giờ tôi dám ra giảng kinh luận và chỉ dạy cho quý vị tu? Vì tôi nhờ có một giai đoạn ngồi yên để tu, có tu thì tâm mới thanh tịnh và thấy được những cái dốt của mình. Ngày xưa, khi giảng kinh Kim Cang đến chỗ Tam luân không tịch, Phật dạy kẻ bố thí không thấy mình là người hay thí, kẻ khác là người thọ thí và không thấy vật đem ra bố thí. Tôi lắc đầu than :
- Kinh Ðại thừa dạy cao siêu khó tu quá, tu không được thì làm sao thành Phật.
Tôi bị bế tắc ngay đó. Tôi nghĩ kinh Ðại thừa chi để trên gác thờ lạy thôi, chứ không áp dụng tu được. Lúc đó tôi lại thân cận với Thượng tọa Minh Châu. Thượng tọa đưa cho tôi bộ A Hàm để đọc, tôi thích quá và nghĩ rằng:
- Mình nên áp dụng kinh A Hàm tu theo Tiểu thừa, chớ áp dụng kinh Ðại thừa nói không hiểu và làm cũng không được.
Sau nhập thất tu, tôi sáng ra và nhận thấy rằng kinh Ðại thừa là quí báu, Phật dạy bố thí với tinh thần Tam luân không tịch là khi bố thí không thấy có mình, không có người, không thấy có vật. Tức là dùng trí huệ Bát nhã quán chiều năm uẩn tự tánh là không, thì thân năm uẩn là không, vật do tứ đại giả hợp mà có nên tự tánh cũng không. Quán chiếu như vậy, ba điều không tịch chớ không phải thấy bằng mắt thịt, thấy có ta, người và vật. Mắt thấy có hình tướng rõ ràng, làm sao gọi là không tịch? Cho nên tôi nói:
- Chủ trương của tôi là ngu dân.
Nghĩa là phải bỏ hết mọi kiến thức. Ngồi gạn lọc những cặn bả của tự tâm khi yên lặng chúng ta sẽ phát minh ra những cái mới, và hết những ngu dốt của chúng ta khi xưa. Sau này khi ra giảng kinh Kim Cang, tôi lạy Phật sám hối những ý nghĩ ngu ngốc của tôi ngày xưa đã cho kinh điển Ðại thừa là vô dụng.
Sở dĩ dẫn chứng trường hợp của tôi là để quý vị thấy lời ngài Khuê Phong nói là chân lý. Khi tâm chúng ta thanh tịnh, dù có nói thế gian pháp cũng thành Phật pháp. Người sống được với trí huệ thì sự nhận định, nói năng hay làm việc của họ rất chính xác không lầm lẫn. Tâm thanh tịnh cũng như hồ nước lặng trong, muôn hình vạn tượng đều hiện rõ ràng. Như câu chuyện của Hòa thượng ở Phú Yên tôi đã kể trong đoạn trước, khi tâm ngài thanh tịnh rồi, muốn biết là biết liền, biết rất chính xác. Còn chúng ta vì vọng niệm quá nhiều, phủ che chơn tánh nên có khi việc đến trước mắt mà nhận định cũng sai lầm.
- Ðâu có thể so với kẻ tu thiền say mê giữ không yên lặng, người huệ điên cuồng chỉ tìm trong văn nghĩa.
Có nhiều người ham tu, nghe nói tu thiền là giữ tâm yên lặng, họ ngồi thiền cứ giữ tâm không ngơ, không biết cái gì hết, đó là thiền si mê. Vì sao? Vì thiền chủ trương yên lặng mà biết, chứ yên lặng mà không biết là rơi vào không ngơ. Tôi ví dụ như có người bỏ nhà đi hoang đã lâu, quên đường về nhà, nay dò dẫm tìm được đường về, nhưng lại quên số nhà, khi đến trước cổng mà vẫn không dám vô nhà. Biết đường về nhà mà quên số thì dù có tới nhà vẫn không vào được trong nhà. Nếu nhớ số nhà thì tới cửa biết chắc đây là nhà của mình, bấm chuông cửa mở và an nhiên bước vô nhà không ngại gì hết. Cũng vậy, khi chúng ta ngồi thiền, biết vọng tưởng dấy lên là che đậy tâm tánh, khi vọng tưởng lắng xuống biết đó là chơn tánh sáng suốt hiện bày. Trong nhà thiền thường nói:
- Do cửa không mà vào được trong nhà và thấy ông chủ.
Như vậy, đồng thời tu thiền nếu người giữ tâm không vọng tưởng, nhưng không biết gì ấy là "thiền si mê". Còn người vọng tưởng không khởi nhưng thường biết rõ ràng ấy là giác. Nếu tu lệch một tí là sai tông chỉ. Cho nên, học đạo là phải có thầy, kẹt chỗ nào vị thầy ấy khai thông cho. Còn không, tu riết rồi lạc, hoặc thối chí ngã lòng. Người nào đi sâu vào thiền định mới thấy rõ chỗ này.
Lại có người tu thiền khi nghe giảng, hoặc xem kinh Phật, thấy câu nào hay rồi ghi nhớ, tới giờ ngồi thiền đem ra suy nghĩ, nghiền ngẫm hoài. Hoặc phát minh điều gì mới lạ, rồi viết lách giải thích, đó là huệ điên cuồng, không bao giờ thấy được Phật tánh, Vì cứ lo tìm trong văn nghĩa, làm sao thấy được chơn tánh bất sanh bất diệt của mình?
]
THIỀN GIÁO SONG HÀNH
Nhưng gốc nhơn liễu đạt mới biện các giáo nghĩa, nên lòng tha thiết tâm tông. Lại, nhơn biện các giáo nghĩa mà hiểu tu tâm, nên chí thành giáo nghĩa.
Do nhơn ban đầu liễu đạt được tự tâm và sau ngài xem kinh hiểu rành giáo nghĩa nên lòng mới tha thiết với thiền, và cũng nhơn hiểu rành giáo nghĩa, ngài nắm vững được phương pháp tu tâm, vì vậy ngài hết sức quý trọng kinh. Ðối với ngài, Thiền và Giáo đều tu nên chủ trương của ngài gọi là Thiền Giáo song hành. Như ở đây tu thiền mà tôi đem kinh ra giảng dạy, đó cũng là đường lối Thiền giáo song hành vậy.
- Giáo là kinh luận do Phật, Bồ Tát lưu truyền. Thiền là kệ tụng do thiền sư thuật lại. Kinh Phật thì mở rộng mênh mang đến một ngàn tám trăm bộ (1800), kệ thiền thì tóm lược tùy hợp căn cơ người phương này. Mênh mang thì thênh thang khó tựa, hợp căn cơ thì chỉ thẳng dễ dùng. Nay biên soạn ý nơi đây vậy.
Giáo là kinh luận do Phật nói, Bồ Tát lưu truyền, nhưng kinh thì nhiều vì Phật nói rộng, người đọc khó lãnh hội được những điều cơ bản. Còn kệ tụng của các thiền sư thì gọn vì các ngài tùy căn cơ của mỗi người nói ra, cho nên dể ứng dụng, vì lẽ đó ngài mới biên tập bộ Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập, nhằm vào ý gom lời của Phật Tổ lại rút ra những điều cơ bản để cho người đọc hiểu và y cứ nơi đó tu hành.
- HỎI: Nói tóm lược thì văn phải gọn, nghĩa phải đầy đủ, lẽ ra phải rút gọn nhiều nghĩa trong một ít văn. Vả lại, chư Phật nói kinh đều đủ: Pháp, nghĩa, nhơn, quả, tín, giải, tu, chứng. Tuy thế giới mỗi nơi có khác hóa nghi không đồng, nhưng chỗ lập giáo đều đủ những điều này, cho nên kinh Hoa Nghiêm mỗi hội mỗi vị đều kết: "Thế giới trong mười phương thảy đồng thuyết này". Nay xem biên tập lời các thiền gia phần nhiều là tùy hỏi, gạn lại, vừa lập vừa phá, không có mối manh, không thấy thủy chung, đâu được gọi là tóm lược Phật giáo.
Phàm nói đến kinh Phật thì phải đủ tám điều kiện: Pháp, nghĩa, nhơn, quả, tín, giải, tu, chứng mới gọi là kinh. Như Kinh Hoa Nghiêm, mỗi Bồ Tát nói xong một thời pháp kết luận rằng: "Thế giới trong mười phương thảy đồng thuyết này". Ở đây, ngài dẫn lời các thiền sư thì không đầu, không đuôi, không thủy, không chung làm sao đủ tám điều kiện đó mà gọi là tóm lược Phật giáo?
- ÐÁP: Phật ra đời lập giáo cùng thiền sư tùy xứ độ người, sự thể mỗi bên có khác. Phật dạy thì muôn đời lấy làm bằng cứ, lý phải hiển bày. Thiền sư dạy chính tại nhất thời độ thoát, ý ở huyền đạo (đạo nhiệm mầu). Huyền đạo ắt phải quên lời, nên nói ra không lưu dấu vết, dứt dấu vết nơi đất ý thì lý hiện ra ở nguồn tâm; tức là tín, giải, tu, chứng không làm mà tự nhiên thành tựu. Kinh, luật, luận, sớ không học tập mà tự nhiên thầm thông.
Lời Phật dạy là mẫu mực cho muôn đời, bộ kinh nào cũng có đủ: Giáo, lý, hạnh. Còn các thiền sư chỉ nhắm vào việc:"Nhứt thời độ thoát" cho người. Như người đang mê chấp, thì thiền sư chỉ nhắm vào chỗ mê chấp của người mà phá chấp. Sở dĩ các ngài làm thế, là muốn cho người buông bỏ chấp trước mà nhận ra chỗ huyền đạo. Huyền đạo là chỉ cho bản thể thanh tịnh của mỗi người. Thiền sư không cho người hỏi mắc kẹt trên ngôn ngữ, chỗ ấy là phải quên lời nên nói: "Dứt dấu vết nơi đất ý thì lý hiện ở nguồn tâm".
Có người đến hỏi một thiền sư:
- Thế nào là đạo?
Ngài đáp:
- Gạo ở Lô Lăng giá bao nhiêu?
Ngài trả lời không dính dáng gì với câu hỏi. Tại sao vậy? Nếu trả lời đạo là thế này hay thế kia thì người nghe duyên theo lời giải thích sẽ khởi niệm suy nghĩ. Các ngài muốn người hỏi bặt hết suy tư, huyền đạo là ở chỗ đó. Trả lời mà không trả lời. Ai có nếm thiền vị rồi mới thấy được chỗ này, còn không thì thấy lạ lùng khó hiểu. Có khi lầm cho các ngài là người mất trí nữa.
Khi bắt đầu ra hướng dẫn tu thiền, tôi có nghĩ đến điều đó. Nếu tôi nói như các thiền sư, chắc người đời cho tôi điên và chẳng ai dám tới học đạo. Do đó, tôi đem kinh, luận giảng dạy, nhờ nghe kinh quý vị tỏ được lý thiền. Thiền sư Trường Sa có nói lời này: "Nếu ta một bề nêu cao tông giáo thì pháp đường cỏ lên tới một trượng".
Vì vậy, các thiền sư tùy phương tiện nói đông, vẽ tây cho người hiếu học ham tu, chứ thật ra chỗ cứu cánh của thiền là không thể dùng ngôn ngữ diễn tả.
- Vì thế, có hỏi phương pháp tu hành, liền đáp: "Không tu", có cầu giải thoát, liền gạn lại: "Ai trói buộc". Hỏi con đường thành Phật, liền bảo: "Không có phàm phu", hỏi khi sắp chết được an tâm, liền bảo: "Xưa nay không có việc"; hoặc cũng bảo đây là vọng, đây là chơn, dụng tâm như thế, dứt nghiệp như thế. Tóm tắt nói: chỉ là tùy việc đương thời ứng hợp cơ đương thời, đâu có pháp nhứt định tên A Nậu Bồ Ðề, đâu có hạnh nhứt định tên Ma Ha Bát Nhã, chỉ cốt tình không khởi ý, ý không suy tính, tâm không pháp sanh, huệ không có chỗ trụ, tức là chơn tín, chơn giải, chơn tu, chơn chứng"
1. Hỏi phương pháp tu hành, liền đáp: "Không tu".
Một hôm, có quan đại phu họ Mã, đến hỏi ngài Triệu Châu:
- Hoà thượng gần đây tu hành thế nào?
Ngài đáp:
- Nếu nói tu là tai họa.
2. Cầu giải thoát, liền gạn lại: "Ai trói buộc".
Tứ Tổ Ðạo Tín khi còn là Sa di, gặp ngài Tam Tổ Tăng Xán, ngài thưa:
- Xin Hòa thượng dạy cho con pháp giải thoát.
Tam Tổ nhìn thẳng vào mặt ngài hỏi:
- Ai trói buộc ngươi?
Tứ Tổ liên ngộ đạo.
3. Hỏi con đường thành Phật, liền bảo: "Không có phàm phu" v.v...
Ðó là lối đáp có truyền thống hẳn hòi. Trong kinh Pháp Bảo Ðàn, Phẩm Chúc Lụy, Lục Tổ dạy đệ tử sau này nếu có ai hỏi đạo thì cứ theo từng cặp đối đãi mà đáp. Hỏi "Có", đáp "Không", hỏi "Tối", đáp "Sáng" v.v... Ví dụ hỏi: Thế nào là tối? Ðáp: Không sáng. Trả lời hết sức gọn, người nghe không hiểu, nhưng người nào lanh lẹ sẽ nhận ra ý chỉ. Vì tối nhơn sáng mà có, ấy là pháp đối đãi không thật, hai cái đuổi nhau. Không sáng ắt là tối. Nếu thấy được các pháp không thật thì chúng ta ngộ được lý: "Các pháp duyên sanh như huyễn". Còn nếu xác định nghĩa của nó, càng làm cho người thấy nó thật và chìm trong si mê. Theo thói quen, cái gì chúng ta cũng muốn định danh, giải nghĩa cho rành rẽ, càng rành rẽ là càng hay. Hỏi thế nào là cái đồng hồ? Chúng ta liền giải thích: cái đồng hồ là vật chỉ thời gian, nó hình tròn hoặc vuông, có ba kim v.v... Giải thích như vậy, người nghe cứ tưởng cái đồng hồ là vật thiệt có. Phật Tổ dạy: "Thấy các pháp không đúng như thật là si mê".
Vì không muốn cho chúng ta kẹt trong si mê, nên các ngài chủ trương, thà để cho chúng ta không hiểu, chứ không cam cho chúng ta si mê. Học đạo khác hơn học thế gian ở chỗ đó. Nhưng không phải một bề các ngài nói vậy, có khi vì phương tiện, các ngài cũng nói đây là chơn, kia là vọng và tu phải dụng tâm như thế nào để dứt nghiệp. Chỉ tùy việc đương thời ứng hợp với căn cơ của chúng sanh. Nên ở đây ngài Khuê Phong dẫn: "Không có pháp nhất định tên A Nậu Bồ Ðề, không có hạnh nhất định tên Ma Ha Bát Nhã".
Chỉ cần bặt ý, hết suy tư, tâm không khởi vọng tình, không trụ ở một pháp nào, ấy là chơn tín, chơn giải, chơn tư, chơn chứng.
- Nếu người không rõ tự tâm, chấp kinh điển muốn cầu Phật đạo, chỉ thông hiểu chữ nghĩa để xem kinh, trọn không chứng ngộ; thông văn, giỏi nghĩa chỉ nuôi thêm lớn tham sân. Ngài A Nan học rộng nhớ nhiều mà lâu năm vẫn không lên quả Thánh. Người dứt duyên phản chiếu, tạm thời liền chứng vô sanh. Nên biết sự lợi ích của thừa giáo và phương pháp độ người mỗi cái có nguyên do riêng, không nên căn cứ văn tự chỉ trích.
Nếu người không tỏ ngộ tự tâm, chỉ y cứ vào kinh điển để cầu Phật đạo, gọi là người hiểu nghĩa theo kinh, trọn không chứng ngộ. Tại sao vậy? Trong kinh Phật có dạy: "Lời ta nói là ngón tay chỉ mặt trăng, nếu chấp ngón tay là mặt trăng thì trọn không thấy mặt trăng thật".
Nhưng chúng ta bây giờ học Phật, đa số ôm kinh điển, học đến đau đầu loạn tưởng, mà không đem ý Phật dạy trong kinh ra áp dụng tu hành. Ở đây ngài Khuê Phong quở:
- Văn tự giỏi, nghĩa lý hay chỉ nuôi thêm lớn tham sân.
Ngài dẫn chứng ông A Nan học rộng nhớ giỏi, theo Phật nhiều năm nghe pháp nhớ không sót một lời, như nước rót từ bình này sang bình kia không rơi ra ngoài một giọt. Ða văn như vậy nhưng đến khi Phật nhập Niết bàn, ông vẫn chưa chứng quả. Trong cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhứt, ngài Ca Diếp mời những vị A La Hán vào hội kết tập, ông chưa chứng quả Thánh nên không được dự, buồn tủi, ra ngoài rừng ngồi tham thiền đắc quả A La Hán mới được mời vào. Chúng ta nên biết, thấy đạo không phải do ở chỗ nhớ giỏi, mà do tâm không dính mắc các duyên bên ngoài, tự quay lại mình thật kỹ, đây gọi là "Dứt duyên phản chiếu". Lời Phật dạy trong kinh điển là thừa giáo, phương pháp độ người chỉ thẳng là của các thiền sư, mỗi bên đều có ý nghĩa và lợi ích tùy theo căn cơ của từng người. Do đó, ngài Khuê Phong khuyên người sau không nên cố chấp vào văn tự chỉ trích lẫn nhau.
- HỎI: Ðã chú trọng đắc ý, không quý văn tự thì cần gì biên tập những câu kệ này?
- ÐÁP: Biên tập có hai ý:
1. Có những vị đọc kinh được ngộ mà không quyết chắc, lại không gặp thiện tri thức, mỗi chỗ gạn hỏi để ấn chứng, khi xem khắp quyển này thấy lời nói ý nghĩa của các thiền sư, được tâm thông suốt, các niệm dứt sạch.
2. Vì những vị đã giải ngộ muốn làm thầy người, giúp họ kiến văn được rộng, thiện xảo thêm nhiều, y chỗ hiển thông suốt tất cả, dùng vấn đáp để truyền dạy. Như trước nói: "Mênh mông thì thênh thang khó nương, hợp căn cơ tức chỉ thẳng dễ dùng"
Sở dĩ ngài Khuê Phong biên tập bộ Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập là có hai lý do:
1. Có những vị tu thiền do đọc kinh ngộ bản tâm nhưng không tin chắc chắn, vì không gặp được thầy ấn chứng. Khi xem quyển này, nhờ ý nghĩa lời nói của các thiền sư, tâm được thông suốt và dứt sạch vọng niệm.
2. Vì những vị đã giải ngộ, tức là nhờ nghe lời nói của một vị thiền sư, hay nhờ xem kinh mà nhận ra nơi mình có chơn tánh bất sanh bất diệt, muốn đem cái thấy biết của mình để dạy cho người, nhưng chưa có kiến giải sâu rộng. Ngài muốn giúp cho họ mượn lời của các thiền sư làm phương tiện dạy cho người thông suốt. Như trước đã nói: Kinh Phật thì quá rộng, còn lời nói các thiền sư thì gọn và chỉ thẳng dễ dùng.
Nhưng, không chỉ giúp cho môn quên lời (thiền) mà cũng gồm bày chỗ lợi ích của kinh giáo, chẳng những khiến ý hợp với Phật, mà cũng muốn văn hợp với kinh. Văn ( của các thiền gia) in tuồng như trái mà khiến cho phù hợp với kinh, thật là việc không phải dễ, phải phán xét hết tạng kinh Ðại thừa, Tiểu thừa, quyền, thật, lý liễu nghĩa, không liễu nghĩa, mới có thể ấn định chỉ thú của mỗi tông trong thiền môn không trái với ý Phật. Nghĩa là tạng kinh, luận quy hợp lại làm ba thứ, lời dạy trong thiền môn quy hợp làm ba tông, phối hợp với nhau cho đúng mới thành cái thấy viên mãn.
Kinh Phật thì chỉ bày quá rộng, còn lời Tổ thì vì phá chấp cho người nên gọn và khó hiểu. Ðem lời Tổ phối hợp với kinh Phật thì khó! Vì vậy ngài Khuê Phong phải đọc hết ba tạng kinh, luật, luận mới phối hợp được. Như hỏi: "Thế nào là giải thoát". Ðáp: "Ai trói buộc ngươi?". Mới nghe qua câu này chúng ta thấy nó không dính dáng gì với kinh, nhưng xét kỹ thấy có liên hệ. Kinh Ðại thừa thường nói: "Nghiệp chướng không thật, vì do vọng tưởng, nên thân miệng mới tạo nghiệp, thân miệng không thật thì nghiệp đâu có thật, nghiệp không thật thì có thể đổi được".
Nếu cho nghiệp thật trói buộc chúng ta thì vô tình chúng ta đã đeo mang một sự lầm lẫn không gỡ ra được. Khi nghe hỏi: "Ai trói buộc ngươi?". Giật mình nhìn lại thấy nghiệp không thật nên ngay đó liền giải thoát. Như vậy lời nói của ngài rất là công phu. Rất tiếc, chúng ta không có đủ bộ một trăm quyển để học, mà chỉ học được bài tựa này.
BIỆN MINH PHƯƠNG TIỆN
- HỎI: Nay biên tập lời nói của các thiền gia đâu quan hệ gì đến kinh luận?
- ÐÁP: Phải biết chỗ quyền thật của kinh, luận mới biện biệt được lẽ phải quấy của thiền gia. Lại phải biết tâm, tánh, tướng của thiền gia mới hiểu được sự lý của kinh, luận. Có mười lý do:
1.- Thầy có gốc ngọn, nương gốc để ấn định ngọn.
2.- Thiền có các tông trái ngược nhau.
3.- Kinh như dây mực để thẩm định tà chánh.
4.- Kinh có quyền, thật phải y liễu nghĩa.
5.- Lượng có ba thứ phải phối hợp cho đúng.
6.- Nghi có nhiều thứ phải giải quyết cho hết.
7.- Pháp nghĩa không đồng phải khéo nhận biết.
8.- Tâm thông cả Tánh, Tướng, tên đồng mà nghĩa khác.
9.- Ngộ tu có đốn tiệm, nói dường như trái nhau mà phù hợp.
10.- Thầy dạy có phương tiện phải biết thuốc biệt bịnh.
Sau đây, ngài giải thích từng lý do một:
1.- Thầy có gốc ngọn, nương gốc để ấn định ngọn: Vị thủy tổ của các tông tức là đức Phật Thích Ca. Kinh là lời dạy của Phật. Thiền là ý của Phật. Chư Phật tâm và miệng ắt không trái nhau. Chư Tổ truyền thừa "Cội gốc" là Phật. Phật phó chúc cho Bồ Tát tạo luận là "Ngọn".
Tất cả tông phái trong đạo Phật đều nhìn nhận đức Thích Ca Mâu Ni là vị thầy chung. Kinh là từ nơi miệng Phật nói ra, tâm Phật chứng ngộ gọi là thiền. Chúng ta tu y theo kinh là y theo lời Phật nói, y theo thiền là ngộ được tâm Phật. Như vậy, tâm và miệng Phật đâu có khác nhau. Nghĩa là kinh nói để làm sáng tỏ thiền, tu thiền để thấy được ý kinh. Nếu nói ngoài kinh có thiền thì không hợp vậy. Các vị Tổ truyền thiền đều gốc từ Phật. Phật phó chúc rồi Bồ Tát sau này tạo luận ấy là ngọn.
- Huống là từ Tổ Ca Diếp cho đến Tổ Ưu Ba Cúc Ða hoằng truyền đều gồm cả ba tạng. Từ Bồ Ðề Ða Ca về sau nhơn Tăng khởi tranh luận nên có giáo hạnh riêng. Từ nước Kế Tân đến nay, nhân nạn vua nên kinh, luận phân hóa.
Như chúng ta đã biết, vị Tổ đầu tiên được đức Phật truyền thiền là Tổ Ca Diếp, kế đến là ngài A Nan, rồi lần lượt đến các ngài Ưu Ba Cúc Ða, các tổ đều thông cả ba tạng và ngộ thiền. Như vậy, kinh và thiền song song, không truyền thiền ngoài kinh. Nhưng sau đó, do có sự tranh luận của chúng Tăng nên mới chia Thiền tông riêng. Lại thêm nạn vua chúa nên kinh, luận bị phân hóa thất lạc, hoặc bị thiêu đốt v.v...
- Khoảng giữa đó có Tổ Mã Minh, Long Thọ tạo luận giải thích kinh đến vài ngàn bài kệ, xem phong tục mà cải hóa nhân tâm, không nhất định quy tắc. Nhưng chưa có người giảng kinh hủy báng người tu thiền, người tu thiền chê bai người giảng kinh. Tổ Ðạt Ma đắc pháp, thân hành từ Ấn Ðộ sang Trung Hoa, thấy phương này người học phần nhiều chưa đắc pháp, chỉ dùng danh số làm giải, sự tướng làm hạnh. Ngài muốn chỉ cho biết mặt trăng, không phải ở ngón tay, pháp tâm là tâm của mình, cho nên chỉ dùng "Tâm truyền tâm, không lập văn tự", hiển bày tông để phá chấp nên có lời dạy, không phải lìa văn tự nói giải thoát. Vì thế có người nhận được ý chỉ, ngài liền khen ngợi kinh Kim Cang, kinh Lăng Già rằng: "Hai kinh này là tâm yếu của ta".
Hai vị Tổ trong Thiền tông cũng là hai vị Bồ Tát nổi danh trong lịch sử của Ðại thừa Phật giáo, đó là ngài Mã Minh và Long Thọ. Hai vị này y theo kinh Phật làm kệ giải thích có tới ngàn vạn bài. Như vậy, từ Tổ Ca Diếp tới Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma là Tổ thứ hai mươi tám của Thiền tông Ấn Ðộ, đều thông kinh Phật, cho nên chưa từng thấy hai bên chê bai chỉ trích lẫn nhau, kinh và thiền không rời nhau. Nhưng khi Tổ Ðạt Ma sang Trung Hoa thấy người học Phật nhiều, người ngộ đạo ít. Người học Phật cứ lo giải thích danh số và lấy các sự tướng bên ngoài làm hạnh tu, người nào giảng kinh rộng cho là ngộ đạo. Thật ra chỉ giảng trên danh tướng mà không ngộ được tông chỉ, không liễu đạt tự tâm. Tổ Ðạt Ma muốn chỉ cho họ thấy "Mặt trăng không phải ở ngón tay", vì để phá những lầm chấp văn tự của người phương này nên khi sang Trung Hoa, Tổ dõng dạc tuyên bố:
Giáo ngoại biệt truyền,
Bất lập văn tự.
Trực chỉ nhơn tâm,
Kiến tánh thành Phật.
Nghe nói :Giáo ngoại biệt truyền", có người cho rằng ngài truyền riêng ngoài kinh điển. Nhưng chủ ý của ngài là muốn phá kiến chấp sai lầm của người, cho rằng thông kinh hiểu nghĩa là ngộ đạo, cũng như người cho ngón tay là mặt trăng. Ngón tay dụ cho giáo là kinh, mặt trăng dụ cho thiền hay là tâm. Muốn thấy mặt trăng thật thì phải nhìn mặt trăng đừng nhìn ngón tay chỉ. Cũng vậy, muốn đạt tự tâm nương nơi kinh Phật để ngộ, kinh giáo không phải là tâm. Như vậy, nói ngoài giáo không có lỗi. Chủ đích của ngài là muốn cho người tu ngộ tự tâm chứ đừng kẹt trên chữ nghĩa.
Nhưng bây giờ người tu phần nhiều kẹt trên chữ nghĩa hơn là ngộ bản tâm thanh tịnh của mình. Thậm chí có người lấy thời khóa tụng làm sự nghiệp tu hành. Khi Phật còn tại thế, ngài và các đệ tử chỉ tọa thiền không có tụng kinh. Sau này chư Tổ bày ra sự tụng kinh là muốn mượn phương tiện cho người sơ cơ dừng vọng tưởng. Trong khi tụng kinh, tay gỏ mõ, tay đánh chuông, ý duyên vào lời kinh thì ba nghiệp được thanh tịnh. Nửa giờ hoặc một giờ ba nghiệp được thanh tịnh ấy là tu được nửa giờ hay một giờ. Nhưng người tu không tụng kinh với chủ ý đó, mà lại lấy sự tụng niệm làm sự nghiệp. Suốt một đời tu cứ sáng một thời công phu, chiều một thời Tịnh độ, còn bày cầu an, cầu siêu, cho kinh này linh, kinh kia không linh, loanh quanh lẩn quẩn bên ngoài sự tướng. Tự mình đã không lợi ích còn hướng dẫn người sai lầm nữa. Thật là đáng thương xót! Tụng kinh đâu có lỗi, lỗi tại không hiểu được ý kinh để áp dụng tu hành. Nương nơi kinh để thấy được bản tâm của mình ấy là người chánh tín, nương nơi kinh để cho ba nghiệp được thanh tịnh, ấy là người sơ cơ tu đạo.
Ở thiền viện, tôi dùng bài kinh Bát Nhã làm khóa lễ tụng mỗi ngày là chủ ý cho thiền sinh nương nơi lời kinh, hằng nhớ quán chiếu năm uẩn tự tánh là không. Khi tâm đã thuần thục rồi, thiền sinh không đến trước bàn thờ tụng kinh nữa mà đi, đứng, ngồi, nằm lúc nào cũng thấy năm uẩn đều không. Nếu không biết nương nơi kinh để tìm ra đường lối tu, cứ một bề lấy sự lễ tụng làm trên khi về già lễ tụng không nổi, thì lấy cái gì để nương? Như vậy, tu suốt cả đời không được lợi ích gì sao?
Nghe nói "Bất lập văn tự", có người không hiểu cho rằng Thiền tông chủ trương bác bỏ văn tự, là không đúng. Song, đọc trong Tục Tạng chúng ta sẽ thấy có đến hai mươi lăm quyển, mỗi quyển gồm mấy trăm trang nghi, nhưng Ngữ lục của chư Tổ như Lâm Tế ngữ lục, Tào Ðộng ngữ lục, Hoàng Bá ngữ lục... ngài nói "Bất lập văn tự" là để phá chấp cho những người chấp văn tự, và nói "Giáo ngoại biệt truyền" là để chỉ cho người "Mặt trăng không phải là ngón tay". Khi truyền pháp cho ngài Huệ Khả, Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma trao bốn quyển kinh Lăng Gia để làm tâm ấn. Tổ còn khen ngợi kinh Kim Cang, kinh Lăng Già: "Hai kinh này là tâm yếu của ta". Như vậy, Tổ không phủ nhận kinh điển.
- Thời nay, các đệ tử chấp kia đây mà quên gốc, người tu tâm (thiền) thì cho kinh luận là tông riêng. Người giảng kinh thì cho thiền môn là pháp khác. Nghe nói nhơn quả tu chứng bèn đẩy qua thuộc nhà kinh luận, đâu biết tu chứng chính là việc gốc của thiền môn. Nghe nói tức tâm là Phật bèn đẩy qua thuộc Thiền hông ngực (hung khâm), đâu biết tâm Phật chính là bản ý của kinh luận. Nay nếu không lấy chỗ quyền thiệt của kinh, luận để đối chiếu chổ sâu cạn của thiền tông, thì đâu có thể dùng giáo (kinh luận) chiếu tâm (thiền), dùng tâm hiển giáo
Thời ấy người tu không thông cho thiền và kinh khác nhau, nói đến nhơn quả tu chúng thì cho đó thuộc về những vị giảng kinh luận, không biết tu chứng là điểm chính yếu của các vị tu thiền. Vị thủy tổ của chúng ta là đức Thích Ca Mâu Ni do tu thiền định mà đắc đạo. Và trong lịch sử Phật giáo Tiểu thừa cũng như Ðại thừa, các vi A La Hán và Tổ sư đều do tu thiền mà chứng đạo. Nghe nói tức tâm là Phật bèn cho đó thuộc về thiền hông ngực. Thời ấy cũng có nhiều vị tu thiền mà không chịu học kinh, nên không hiểu lý kinh, mở miệng nói thiền thì đặt tuồng bụng, không hợp với kinh điển, do đó những vị Sư thông kinh cho những vị Sư tu thiền dốt, ấy là thiền hông ngực. Cả hai đều có chỗ để chê nhau chứ không chịu dung hội mà bổ khuyết cho nhau. Ðâu biết rằng, chủ yếu của kinh luận là chỉ bày cho chúng ta thấy được bản tâm. Nên ngài Khuê Phong mới chủ trương dùng kinh để hiểu thiền và dùng thiền làm sáng tỏ ý kinh. Hai bên hỗ tương chớ không thể tách rời nhau được.
2.- Thiền có các tông trái ngược nhau: Nay biên lời thuật gần đến trăm nhà, nhưng tông nghĩa riêng biệt vẫn đến mười vị: Giang Tây (Ðạo Nhất), Hà Trạch (Thần Hội), Bắc Tú (Thần Tú), Nam Săn (Trí Săn), Ngưu Ðầu (Pháp Dung), Thạch Ðầu, Bảo Ðường, Tuyên Thập và Châu Na, Thiên Thai...
Tuy sách này biên lời thuật gần đến một trăm nhà, nhưng tông nghĩa riêng biệt. Ngài nêu lên mười vị, có những vị là môn đồ của Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma, có những vị không phải, ngài cũng gom vào tập sách này. Sự lập tông truyền pháp của các ngài có nhiều phương tiện khác nhau. Người học mới nghe qua đường như chống nhau. Nhưng sự thực không hẳn vậy.
- Lập tông truyền pháp trái ngược nhau, có vị lấy "Không" làm gốc, có vị lấy "Tri" (biết) làm nguồn, có vị bảo "Vắng lặng mới là chơn", có vị nói "Ngồi, đi đều phải", có vị nói "Hiện nay sớm chiều phân biệt tất cả đều vọng", có vị bảo "Phân biệt tất cả đều chơn", có vị nói "Muôn hạnh đều còn", có vị bảo "Ðến Phật cũng mất", có vị phóng nhậm chí mình,có vị câu thúc tâm mình, có vị lấy kinh luật làm chỗ y cứ, có vị cho kinh luật là chướng đạo. Không những các vị nói phiếm mà lại bàn chính xác, chính xác hoằng truyền tông của mình, chính xác hủy báng các tông khác, đâu có thể hòa hợp được.
Ngài nêu lên sự lập tông truyền pháp sai biệt của mười vị này:
- Có vị lấy "Không làm gốc: ngài Thạch Ðầu nói tất cả các pháp đều không.
- Có vị lấy "Tri" (biết) làm nguồn: ngài Thần Hội ở Hà Trạch nói: "Tri như nhất tự chúng diệu chi môn", nghĩa là một chữ biết là cửa muôn hạnh.
- Có vị bảo "Vắng lặng mới là chơn": đó là đường lối của ngài Thạch Sương Khánh Chư, ngài dạy đồ chúng ngồi thiền cho yên lặng.
- Có vị nói "Ngồi, đi đều phải": đây là đường lối của ngài Mã Tổ ở Giang Tây.
- Có vị nói "Hiện nay sớm chiều phân biệt tất cả đều vọng": đó là chủ trương của ngài Thạch Ðầu Hy Thiên...
Ðây, tôi dẫn chứng hai vị thiền sư của hai dòng thiền là huynh đệ cùng phát nguồn từ Lục Tổ, mà chủ trương lại khác nhau:
Ngài Thạch Ðầu nói: "Hiện nay sớm chiều phân biệt tất cả đều vọng".
Ngài Mã Tổ nói: "Phân biệt tất cả đều chơn".
Tôi xin giải thích chỗ không khác của hai ngài trong lối nói ngược nhau này:
a.- Chủ trương của Thạch Ðầu là "Loại ra". Ngài nói: Hiện nay tất cả phân biệt và mọi hành động, đi, đứng, nằm, ngồi của chúng ta đều do vọng tưởng. Biết rõ nó là do vọng nên tâm không chạy theo, không dính mắc ở hai bên, hằng sống với tâm thể lặng lẽ như như.
b.- Chủ trương của Mã Tổ là "Thu vào". Ngài cho rằng: Tất cả việc đi, đứng, nói năng của chúng ta đều là chơn. Vì do vọng tưởng không có tự tánh, do tâm mê nên nó dấy lên. Cũng như sóng, không có tự tánh, do gió thổi nên mới có sóng dậy. Nhìn trên hình tướng, bao nhiêu lượn sóng chúng ta thấy nó sai biệt, nhưng thể nó đều là nước. Ngay nơi sóng, biết là nước thì có lỗi gì? Cũng vậy, tất cả vọng tưởng nói năng đều từ chơn tâm hiện, ngay nơi vọng biết nó là chơn, đâu có lỗi. Nếu chúng ta thấy người, thấy vật đều biết không ngoài chơn tâm hiện, thì có đem chơn tâm phân biệt hay không? Nếu không khởi phân biệt thì tâm hằng lặng lẽ như như.
Hai lối nói của hai ngài coi như ngược nhau mà lại gặp nhau. Tất cả đều là hư vọng giả dối cũng không khởi tâm chạy theo cảnh. Thấy tất cả đều là chơn tâm hiện cũng không khởi tâm chạy theo cảnh. Cả hai đều gặp nhau ở chỗ tâm nhất như.
Hiểu được chỗ này, đọc lịch sử các thiền sư chúng ta liền biết vị ấy thuộc dòng thiền nào. Như đọc lịch sử Việt Nam, ta thấy ngài Thiền Lão thiền sư mang sắc thái của thiền Mã Tổ.
Một hôm, vua Lý Nhân Tông vào núi gặp ngài, bèn hỏi:
- Hoà thượng ở đây được bao lâu rồi?
Ngài đáp:
Ðản tri kim nhật nguyệt,
Thùy thức cựu xuân thu?
Tạm dịch:
Chỉ biết ngày tháng này,
Còn xuân thu trước ai hay làm gì?
Vua hỏi tiếp:
- Hòa thượng ở đây làm gì?
Ngài đáp:
Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh,
Bạch vân minh nguyện lộ toàn chân.
Tạm dịch:
Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác,
Trăng trong trong mây trắng hiện toàn chơn.
Qua bốn câu thơ trả lời của ngài, chúng ta thấy ngài sống được với thực tại chứ không bị lệ thuộc vào thời gian, tất cả cảnh vật ở trước mắt ngài đều từ chơn tâm hiển lộ. Ngài cách Mã Tổ bao nhiêu đời, mà cái thấy không khác.
- HỎI: Phải thì nhận, sai thì loại ra đâu cần chiều theo để hòa hội?
- ÐÁP: Hoặc không, hoặc hữu, hoặc tánh, hoặc tướng đều không phải tà quấy, chỉ tại mỗi vị công nhận phe mình là đúng, bài xích nhóm khác là sai, xác định kia đây, nên cần phải hòa hội.
Chư Tổ nói không, nói có, nói tánh, nói tướng đều không phải tà quấy. Do người sau chấp, nhìn một bên nên cho chủ trương của tông mình là đúng, chủ trương của tông khác là sai, rồi bài xích lẫn nhau. Vì vậy, ngài Khuê Phong nói cần phải hòa hội.
Ví dụ cái bàn, nói có, nói không, cả hai bên đều không trật. Tại sao? Nói không, là căn cứ trên mặt thể tánh. Nói có là căn cứ trên hình tướng duyên hợp tạm có. Người không thấu suốt lý đạo, khi nói không, cho là thật không, khi nói có, cho là thật có. Người thông suốt lý đạo thì nói sao cũng được, không chấp trên văn tự ngôn ngữ, nói để phá chấp cho người mà phù hờp với lý chân thật.
Có một cư sĩ mới học thiền, tới hỏi ngài Trí Tạng Tây Ðường:
- Bạch Hòa Thượng, có Phật không?
Ngài trả lời:
- Có.
- Bạch Hòa Thượng, có pháp không?
- Có.
- Bạch Hòa Thượng, có thiên đường không?
- Có.
- Bạch Hòa Thượng, có địa ngục không?
- Có.
Hỏi cái gì ngài cũng đáp có, ông Cư sĩ thắc mắc, hỏi lại:
- Hòa Thượng trả lời "Có", có lầm chăng?
Ngài hỏi:
- Trước khi đến đây, ông có hỏi ai những câu này không?
Cư sĩ thưa:
- Dạ, con có hỏi Hòa Thượng Cảnh Sơn.
- Hòa Thượng đáp thế nào?
- Câu nào ngài cũng đáp không, còn ở đây câu nào Hòa Thượng cũng đáp có, Vậy ai trật, ai trúng?
Ngài liền hỏi ông cư sĩ:
- Ông có vợ không?
- Dạ, có.
- Hòa Thượng Cảnh Sơn có vợ không?
- Dạ, không?
- Vì Hòa Thượng Cảnh Sơn không có vợ, nên ngài đáp câu nào cũng không, vì ông có vợ nên câu nào tôi cũng đáp có.
Ngài Cảnh Sơn không có vợ là ý muốn nói ngài không có ái nhiễm, ngài đã ngộ được các pháp tự tánh không, nên ngài mới đáp không. Sở dĩ có danh từ "Phật" là đối với "Chúng sanh" mà nói. Phật là giả danh, chỉ cho những ai đã giác ngộ, pháp cũng là giả danh chỉ cho tất cả sự vật, thiên đường, địa ngục cũng vậy v.v... Ðối với ông cư sĩ mới học đạo, còn đầy ái nhiễm và mê chấp, nên ngài Tây Ðường đáp có để ông ấy sợ mà lo tu hành. Ðó là chỗ khéo giáo hóa của các thiền sư. Vì vậy, nên ngài Khuê Phong nói phải cần hòa hội thì người sau hiểu được không còn bài xích lẫn nhau.
- HỎI: Ðã không phải là tà thì mặc tình họ xác định, cần gì phải hội lại?
- ÐÁP: Chí đạo là một, liễu nghĩa không hai, không nên còn hai. Chí đạo chẳng phải một bên, liễu nghĩa không phải thiên lệch, không nên nhận riêng. Cho nên, cần phải hội lại làm một khiến đều được viên diệu.
Người hỏi: "Nếu không phải là tà thì mặc tình họ xác định, cần gì ngài phải nhọc công dung hội?
Ngài đáp: "Chỗ chí đạo không hai và không nên còn hai".
Nghĩa là đến chỗ liễu nghĩa thì không còn thiên lệch một bên. Không nên riêng nhận mình là phải và cho người là quấy. Còn phải quấy, hơn thua là còn kẹt hai bên, làm sao đạt được lý trung đạo?
Có một cư sĩ tới hỏi đạo một vị thiền sư (trên tay đang bưng một đĩa quả):
- Bạch Hòa Thượng thế nào là đạo?
Ngài bảo:
- Buông tay!
Cư sĩ liền buông một tay. Ngài bảo:
- Buông nữa!
Cư sĩ buông một tay nữa và đĩa quả rớt luôn. Ngài bảo:
- Buông nữa!
Cư sĩ ngơ ngác! Nếu là người bén nhạy liền ngộ, vì chẳng ngộ nên cũng ngơ ngác như chú cư sĩ này. Thiền sư muốn chỉ cho chú cư sĩ lý trung đạo mà chú chẳng hội. Ngài bảo buông lần thứ nhất, lần thứ hai là buông cái chấp đối đãi hai bên: thiện ác, phải quấy, tốt xấu v.v... Nếu buông hai cái đó rồi tưởng chừng như không còn gì hết. Sợ người rơi vào chấp không nên ngài bảo luông lần thứ ba là buông luôn "Niệm chấp không", đó mới đạt lý trung đạo. Lối dạy của các thiền sư rất là kỳ đặc, chỉ dùng một hai hành động hoặc lời nói ngắn gọn, cốt khiến cho người nhận ra lý đạo.
- HỎI: Lấy nước để chung với lửa thì không thể lưỡng toàn, đem mâu đâm vào thuẫn thì không thể cả hai đều thắng, chỗ chấp của các tông đã trái nhau, một phải ắt có một quấy thế nào hội lại đều khiến diệu
Người hỏi gạn lại: Thường thấy nước và lửa không ưa nhau, mâu với thuẫn thì chống nhau, một mất một còn, cũng như chỗ chấp của các tông hễ một phải thì một quấy, làm sao hội lại?
- ÐÁP: Ðều còn pháp kia, đều dẹp bệnh kia, tức đều diệu. Nghĩa là đem pháp đến người là khó, đem người đến pháp là dễ, người phần nhiều tùy tình khởi chấp, chấp trước trái nhau, thật như nước lửa chung nhau, mâu thuẫn chống nhau, cho nên khó. Pháp vốn xứng lý lẫn thông, thông tức tự nhiên thuận nhau, dừng chảy đều là nước, hoàn xuyến đều là vàng, cho nên dễ. Nói tóm lại cuộc chấp thì đều quấy, hội thông thì đều phải.
Pháp của Phật là chơn lý, đem chân lý nói theo tình người là khó, vì người phần nhiều sống theo tình thức, nên khởi chấp kia đây, thấy có trái nhau nên chống báng lẫn nhau. Do đó đem pháp của Phật nói cho người dẹp được bịnh chấp trước rất khó, khó làm mà làm được mới hay mới quý. Khi người hết chấp trước, sống được với chân lý (pháp) thì dễ, vì chân lý không lựa chọn cũng không từ chối một người nào. Khi chưa thấu suốt được lẽ thật thì thấy có sự sai biệt giữa các tông, nhưng khi đã thông được lý cứu cánh thì thấy thuận nhau. Ví dụ khi nhìn thấy các vòng xuyến, hoa tai v.v... trên hình tướng chúng ta thấy khác nhau, nhưng tất cả những thứ ấy đều do vàng làm ra. Nước ở trong ly, trong chai, trong hồ, dưới sông tuy thấy hình tướng dừng chảy khác nhau, nhưng chỉ có một thể tánh là ướt. Cũng vậy, khi người đạt được thể tánh thì không còn mắc kẹt trên hình tướng sai khác mà sanh phân biệt chấp trước. Còn chấp trước là còn quấy, thông suốt được ấy là phải.
- Nếu không lấy lời Phật dạy để hiển bày mỗi bên, thâu nhận sở trường của mỗi bên, quy lại làm ba tông đối với ba giáo, thì do đâu hội làm thiện xảo một thời, đều thành pháp môn yếu diệu. Cho nên, nếu mỗi bên quên được tình chấp của mình thì đồng quay về biển trí.
Ngài Khuê Phong lấy lời Phật dạy chứng minh để thừa nhận sở trường của mỗi bên. Ngài gom lại Thiền có ba tông, Kinh có ba giáo, đối chiếu để cho người sau lấy đó làm pháp môn yếu diệu mà tu hành. Nếu tất cả người tu hành đối với pháp môn nào cũng bỏ hết tình chấp thì mau trở về biển trí huệ. Trái lại cứ đeo đẳng tình chấp mà tu, cho pháp này cao, pháp kia thấp, pháp này hay, pháp kia dỡ... ấy là còn si mê, nếu còn si mê thì khó giải thoát!
3.- Kinh như dây mực để thẩm định tà chánh: Dây mực không phải khéo, mà thợ khéo phải lấy dây mực bằng cứ. Kinh luận không phải thiền, mà người truyền thiền phải lấy kinh luận làm tiêu chuẩn.
Kinh luận là lời nói chữ nghĩa ghi chép thành quyển thành pho, không phải là thiền (tâm giác ngộ). Song, người truyền thiền phải lấy kinh luận làm tiêu chuẩn để làm sáng tỏ tâm (thiền). Như thợ mộc khéo lấy dây mực làm bằng cứ để đẽo, bào cho các món đồ được ngay thẳng.
Tôi thường nói: "Kinh điển là chân lý chết, Thiền là chân lý sống". Tại sao? Vì kinh là lời Phật nói chỉ cho chúng ta biết được chân lý, chân lý đó đang là hình thức của những chữ, mực, giấy là bất động, nương nơi đó để thấy được tâm mình là cái sống động. Người tu thiền nương kinh để trở về bản tâm, ấy là sống với chân lý. Vì vậy, Kinh và Thiền hai bên đều nương nhau không thể rời nhau được.
- Người trung, hạ căn nên y theo thầy. Thầy tự xem căn cơ tùy phần chỉ dạy. Người thượng căn ngộ phải viên thông, nếu chưa nghiên cứu Phật dạy thì đâu đồng chỗ thấy của Phật.
Hàng trung và hạ căn như chúng ta thì phải nhờ thầy chỉ dạy phương pháp tu, mới có lợi ích.Còn hàng thượng căn nghe một câu liền ngộ được lý, khi ngộ phải ngộ cho viên thông, muốn viên thông sau khi ngộ phải nghiên cứu lời Phật dạy. Nếu không nghiên cứu kỹ lời Phật dạy, thì làm sao cái thấy của mình đồng với cái thấy của Phật?
- HỎI: Mỗi nơi đều có kinh Phật mặc tình học giả chuyên đọc khảo cứu để thông hội. Người tập thiền hà tất phải thông kinh?
- ÐÁP: Ý này đoạn văn sau sẽ trả lời:
4.- Kinh có quyền thật phải y liễu nghĩa: Phật nói các kinh có khi tùy ý mình nói, có khi tùy ý người nói, có chỗ xứng lý cứu cánh, có chỗ tùy căn cơ đương thời, có nói tánh, tướng, đốn, tiệm, đại, tiểu, liễu nghĩa, không liễu nghĩa, văn gồm hình thức trái nhau, nghĩa ắt viên thông không ngại, như rồng ẩn biển sâu khó thấy được dấu vết.
Kinh Phật nói có quyền có thật, chúng ta học Phật muốn thấu được chỗ rốt ráo thì phải y nơi kinh liễu nghĩa, tức là y những kinh Phật nới lý cứu cánh không dấu diếm. Vì kinh Phật rầt nhiều, trong đó có khi Phật y nơi tánh, có khi y nơi tướng mà nói, có khi nói đốn, tiệm v.v... Trên văn chương chữ nghĩa chúng ta thấy như trái nhau, nhưng nghĩa lý thì viên thông không chướng ngại. Muốn nắm được chỗ cương yếu để áp dụng tu hành thì phải y nơi kinh liễu nghĩa và phải biết rõ "Quyền" và "Thật".
Phật nói pháp rất linh động, không nhất định cũng không hạn cuộc.Có lúc tùy ý đức Phật nói ra là "Vô vấn tự thuyết". Có khi tùy theo lời hỏi của người mà nói, tùy theo căn cơ cao thấp nên có lúc Phật phương tiện nói thấp không đúng chân lý. Ví dụ ở đây, tôi chuyên dạy tu thiền, nhưng có một cư sĩ đến hỏi:
- Thưa thầy, xin thầy dạy cho con phương pháp tu hành để đời sau được sung sướng.
Tôi trả lời:
- Muốn đời sau sung sướng thì bây giờ phải tập tu bố thí, trì giới, sau làm người được sung sướng.
Như vậy, tôi tùy căn cơ của người tới hỏi mà đáp. Nhưng có người không hiểu cho rằng tôi chủ trương dạy người tu bố thí, trì giới. Như vậy có sai không? - Sai. - Lại có người muốn tu thiền, đến thưa với tôi: "Xin thầy nói một câu thật ngắn gọn để con được thấy đạo". Rồi hỏi tiếp:
- Thế nào là đạo.
Giả sử tôi đáp:
- Gạo ở Vũng Tàu hai trăm đồng một ký.
Người ấy không hội mà đồn rằng:
- Ông thầy ở tu viện Chơn Không dạy tu, nói cái gì lạ quá!
Như vậy người nghe không nhận ra ý chỉ của người dạy. Cũng vậy, đức Phật có khi nói cao, có khi nói thấp, khi nới quyền, lúc nói thật. Người đọc kinh phải thông suốt, nếu không thì chẳng hiểu đức Phật muốn dạy gì.
- Nay chỉ dùng hơn mười tờ giấy trình bày để chọn lựa đó, khiến một thời thấy rõ ý Phật. Sau khi thấy ý Phật thì tìm đủ trong một tạng, tức là mỗi câu đều biết được tông chỉ.
Sau khi chúng ta đọc qua những lời tóm gọn của ngài Khuê Phong, nếu nhận ra được ý Phật rồi thì đọc Tam Tạng giáo điển chúng ta đều hiểu không còn ngờ vực nữa.
*
5.- Lượng có ba thứ phải phối hợp cho đúng: Ở Ấn Ðộ các vị Hiền thánh hiển pháp nghĩa đều lấy ba lượng làm quy định. Một là tỷ lượng, hai là hiện lượng, ba là Phật ngôn lượng (thánh giáo lượng). Lượng là độ lượng như thăng đấu lường vật để biết chắc chắn.
Thuở xưa, ở Ấn Ðộ luận lý thường dùng ba lượng làm căn bản. Do đó, các vị Hiền thánh muốn hiển bày pháp nghĩa cũng lấy ba lượng này làm quy định. Lượng là đo lường, như muốn đong lúa chúng ta phải dùng thăng hoặc đấu để lường mới biết chắc chắn nó là bao nhiêu.


